Kết quả kinh doanh

13,4 triệu tài khoản và dư địa lớn của ngành quỹ

Tinnhanhck
· 7 giờ trước

Khoảng trống giữa đầu tư và quản lý tài sản

Nhà đầu tư cá nhân gia tăng nhanh là một trong những thay đổi đáng chú ý của thị trường chứng khoán Việt Nam những năm gần đây. Theo số liệu từ Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam, đến tháng 6/2026, thị trường có 13,4 triệu tài khoản giao dịch chứng khoán, tương đương khoảng 13% dân số, tăng thêm 1,3 triệu tài khoản trong 6 tháng đầu năm.

Trong khi đó, theo Công ty Quản lý quỹ Vietcombank (VCBF), số tài khoản chứng chỉ quỹ chỉ khoảng 2,4 triệu, còn quy mô quỹ mở đạt khoảng 66.000 tỷ đồng.

Khoảng cách giữa hai con số phần nào phản ánh đặc điểm của thị trường Việt Nam: nhu cầu đầu tư phát triển nhanh, nhưng mức độ sử dụng dịch vụ quản lý tài sản chuyên nghiệp chưa tăng tương xứng. Một lực lượng lớn nhà đầu tư đã tham gia thị trường vốn và trực tiếp quản lý tài sản, trong khi tỷ lệ lựa chọn quỹ đầu tư vẫn tương đối thấp. Với ngành quản lý tài sản, đây vừa là khoảng trống, vừa là nguồn tăng trưởng tiềm năng.

Ông Trương Rin, Giám đốc Phát triển Kinh doanh tại UOB Asset Management Việt Nam cho rằng, tỷ lệ nhà đầu tư tham gia các quỹ còn khá thấp so với quy mô dân số và tiềm năng kinh tế, dù số lượng nhà đầu tư trực tiếp trên thị trường chứng khoán đã tăng mạnh. Tổng tài sản quản lý của ngành quỹ hiện mới tương đương khoảng 6% GDP, thấp hơn đáng kể so với nhiều thị trường trong khu vực.

'Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế nổi bật như tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, quy mô dân số lớn, tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh và tỷ lệ tiết kiệm cao. Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ tiết kiệm nội địa (Gross Domestic Savings) của Việt Nam đạt khoảng 37,4% GDP trong năm 2025, thuộc nhóm cao trong khu vực và cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu. Trong khi đó, tỷ lệ tài sản được đầu tư thông qua các quỹ vẫn còn ở mức khiêm tốn so với nhiều thị trường trong khu vực, cho thấy dư địa tăng trưởng của ngành quản lý tài sản còn rất lớn', ông Trương Rin cho biết.

Đáng chú ý, tỷ lệ tiết kiệm cao trong khi tỷ lệ tài sản được quản lý qua các quỹ còn thấp cho thấy dư địa của ngành không chỉ nằm ở việc tìm kiếm nguồn tiền mới. Tài sản đã được hình thành trong nền kinh tế, lực lượng nhà đầu tư cũng đã có mặt trên thị trường; vấn đề là làm thế nào chuyển một phần lớn hơn nguồn tài sản đang được tiết kiệm hoặc tự quản lý sang các giải pháp đầu tư chuyên nghiệp.

Khi nhà đầu tư hiểu rõ hơn về đầu tư dài hạn, đầu tư định kỳ và sức mạnh của lãi kép, họ sẽ thay đổi tư duy từ giao dịch ngắn hạn sang đầu tư dài hạn.

Động lực tăng trưởng của ngành quỹ trong giai đoạn tới vì thế cũng sẽ khác trước. Nếu ở giai đoạn đầu, nhiệm vụ chủ yếu là đưa khái niệm đầu tư quỹ đến gần công chúng, thì hiện nay thị trường mục tiêu đã bao gồm hàng triệu người có trải nghiệm đầu tư thực tế. Bài toán đặt ra là cần chuyển từ mở rộng nhận biết sang thuyết phục nhà đầu tư phân bổ một phần tài sản cho quản lý chuyên nghiệp, đặc biệt với các mục tiêu tích lũy dài hạn.

Theo UOB Asset Management Việt Nam, sự phát triển của thị trường vốn, số hóa tài chính và nhu cầu ngày càng tăng đối với các giải pháp đầu tư chuyên nghiệp đang tạo thêm điều kiện cho quá trình này. Từ kinh nghiệm tại các thị trường trong khu vực, đơn vị này cho rằng, Việt Nam đang ở giai đoạn tương đồng với thời điểm trước khi ngành quản lý tài sản tại một số thị trường bước vào chu kỳ tăng trưởng mạnh.

Tuy nhiên, tiềm năng kinh tế, nguồn tiết kiệm lớn hay sự gia tăng của nhà đầu tư cá nhân mới chỉ tạo ra điều kiện cần. Để những yếu tố này chuyển hóa thành tài sản được quản lý qua các quỹ, ngành quản lý tài sản còn phải giải quyết một khoảng cách khó hơn: từ một nhà đầu tư cá nhân trở thành người sẵn sàng giao một phần tài sản cho tổ chức chuyên nghiệp quản lý trong dài hạn.

Từ tiếp cận đến dòng vốn dài hạn

Khả năng tiếp cận từng là một trong những rào cản đáng kể đối với đầu tư quỹ, nhưng công nghệ đang nhanh chóng thu hẹp rào cản này. Theo VCBF, eKYC cho phép nhà đầu tư hoàn tất thủ tục trong vài phút; nhà đầu tư cá nhân có thể bắt đầu với vài trăm nghìn đồng và giao dịch ngay trên điện thoại. Công nghệ cũng góp phần giảm chi phí phân phối, vận hành, đồng thời giúp việc cung cấp giá trị tài sản ròng, danh mục, báo cáo quỹ và kiến thức đầu tư trở nên thuận tiện hơn.

Những thay đổi này giúp thu hẹp đáng kể khoảng cách giữa công ty quản lý quỹ và khách hàng, nhưng việc mua chứng chỉ quỹ dễ dàng hơn chưa đồng nghĩa với khả năng hình thành dòng vốn bền vững. Khi rào cản kỹ thuật giảm xuống, thách thức lớn hơn nằm ở hành vi: nhà đầu tư lựa chọn sản phẩm thế nào, phản ứng ra sao trước biến động và có đủ kiên nhẫn duy trì khoản đầu tư theo mục tiêu ban đầu hay không.

Thực tế, việc tham gia quỹ không tự động loại bỏ tâm lý chạy theo thị trường. Phân tích của VCBF cho thấy, dòng tiền vẫn có xu hướng tìm đến những quỹ vừa ghi nhận hiệu suất cao, khiến nhà đầu tư có thể gia nhập sau một giai đoạn tăng giá. Công nghệ giúp quá trình ra quyết định và giao dịch nhanh hơn, nhưng cũng có thể khuếch đại FOMO nếu nhà đầu tư chưa có kế hoạch và kỷ luật đầu tư rõ ràng.

Vì thế, phát triển ngành quỹ không chỉ là làm cho sản phẩm dễ mua hơn, mà còn phải giúp nhà đầu tư hiểu vì sao họ sở hữu sản phẩm đó và duy trì khoản đầu tư đủ lâu để đạt mục tiêu tài chính. Theo UOB Asset Management Việt Nam, để thay đổi hành vi cần thời gian và sự tham gia của nhiều bên. Trong đó, các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp có vai trò chia sẻ kiến thức, cải thiện trải nghiệm và giúp khách hàng hiểu rõ hơn về đầu tư dài hạn, đầu tư định kỳ cũng như tác động của lãi kép.

'Khi nhà đầu tư hiểu rõ hơn về lợi ích của đầu tư thông qua quỹ được quản lý chuyên nghiệp, đầu tư dài hạn, đầu tư định kỳ, sức mạnh của lãi kép, họ sẽ thay đổi tư duy từ giao dịch ngắn hạn sang đầu tư dài hạn, tích lũy tài sản bền vững thông qua các quỹ đầu tư', ông Trương Rin nhận định.

Ở góc độ này, giáo dục tài chính không chỉ có ý nghĩa phổ biến kiến thức hay mở rộng tập khách hàng, mà còn liên quan trực tiếp đến chất lượng dòng vốn ngành quỹ có thể thu hút. Nhà đầu tư tham gia vì hiểu mục tiêu, đặc tính và rủi ro của sản phẩm có khả năng duy trì khoản đầu tư qua các chu kỳ thị trường tốt hơn so với dòng tiền chủ yếu bị thu hút bởi hiệu suất ngắn hạn.

Mục tiêu của ngành vì thế không chỉ là tăng số tài khoản chứng chỉ quỹ hay thu hút dòng tiền tại một thời điểm, mà là xây dựng một lớp nhà đầu tư có khả năng duy trì vốn theo kế hoạch dài hạn. Muốn vậy, giáo dục tài chính cần đi cùng một yếu tố quan trọng khác: niềm tin vào tổ chức được giao quản lý tài sản.

Theo ông Trương Rin, tạo dựng niềm tin của nhà đầu tư là trách nhiệm quan trọng của công ty quản lý quỹ. Hiệu suất đầu tư vẫn là một tiêu chí, nhưng cần được đặt trong một cấu trúc rộng hơn, gồm quy trình quản trị rủi ro chặt chẽ, khả năng tạo kết quả bền vững trong dài hạn và minh bạch thông tin với khách hàng.

Nhìn theo chuỗi này, khả năng tiếp cận, hiểu biết của nhà đầu tư và niềm tin không phải là những yếu tố tách rời. Công nghệ và mạng lưới phân phối đưa sản phẩm đến gần khách hàng; giáo dục tài chính giúp nhà đầu tư lựa chọn sản phẩm phù hợp và hình thành kỳ vọng hợp lý; trong khi chất lượng quản lý, quản trị rủi ro và minh bạch quyết định khả năng tài sản tiếp tục ở lại với các quỹ qua những giai đoạn thị trường thuận lợi cũng như khó khăn.

Với hàng chục triệu tài khoản chứng khoán và nguồn tiết kiệm lớn trong nền kinh tế, dư địa của ngành quỹ Việt Nam là rất lớn. Thách thức trong giai đoạn tới nằm ở khả năng chuyển một phần lớn hơn nguồn vốn của nhà đầu tư sang quản lý chuyên nghiệp và quan trọng hơn là duy trì nguồn vốn đó trong dài hạn.

Nếu thu hẹp được khoảng trống này, ngành quỹ có thể tiến thêm một bước, từ một kênh đầu tư cá nhân trở thành mắt xích quan trọng trong quá trình chuyển hóa tiết kiệm thành nguồn vốn dài hạn cho thị trường và nền kinh tế.