Tin tức thị trường

6 nhóm giải pháp về Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược đến năm 2030

Vneconomy
· 7 giờ trước

Chiến lược được kỳ vọng sẽ đóng góp thiết thực cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược phục vụ phát triển bền vững...

Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) và Cơ quan Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Australia (CSIRO) trao thỏa thuận hợp tác, mở thêm cơ hội kết nối nguồn lực và triển khai các chương trình hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày 10/8. Ảnh: MST.
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) và Cơ quan Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Australia (CSIRO) trao thỏa thuận hợp tác, mở thêm cơ hội kết nối nguồn lực và triển khai các chương trình hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày 10/8. Ảnh: MST.

Ngày 11/8, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định số 139/QĐ-TTg ban hành Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược đến năm 2030.

Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược là một trong những nhiệm vụ trọng tâm tại Nghị quyết số 11/NQ-CP sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bám sát chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phát triển công nghệ chiến lược và ngoại giao phục vụ phát triển với ngoại giao công nghệ là trọng tâm, Chiến lược tập trung vào 6 nhóm giải pháp chính.

Một là tạo môi trường hợp tác thuận lợi.

Hai là triển khai các cam kết thỏa thuận.

Ba là nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ.

Bốn là nâng cao năng lực phát triển công nghệ. 

Năm là hỗ trợ doanh nghiệp.

Sáu là tham mưu chính sách.

Chiến lược được kỳ vọng sẽ đóng góp thiết thực cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược phục vụ phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.

Mới đây, tại Phiên toàn thể Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cũng đã khẳng định xuyên suốt Nghị quyết số 57 và Nghị quyết số 06 của Đảng, hội nhập và ngoại giao, trong đó có ngoại giao khoa học và công nghệ, đã được định vị là một đột phá chiến lược, đứng độc lập, ngang hàng với hội nhập kinh tế và chính trị - an ninh.

Đáng chú ý, Việt Nam hiện đã chính thức có quyết định thành lập và phát triển Mạng lưới chuyên gia AI Việt Nam toàn cầu, nhằm thu hút, tập hợp và duy trì sự tham gia của đội ngũ chuyên gia AI người Việt trên toàn cầu; đồng thời thiết lập cơ chế dẫn dắt, đào tạo và chuyển giao tri thức theo chuẩn quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực AI của Việt Nam. 

Trong đó, Bộ Khoa học và Công nghệ là đầu mối quốc gia quản lý, điều phối hoạt động. Hội đồng cố vấn quy tụ các chuyên gia AI uy tín trong và ngoài nước, có nhiệm vụ tư vấn chiến lược, định hướng chuyên môn, đề xuất các hoạt động trọng tâm và kết nối chuyên gia với các nhiệm vụ, bài toán cụ thể của quốc gia.

Song song với việc mở rộng hợp tác và thu hút nguồn lực quốc tế, Việt Nam cũng đang hoàn thiện hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm và các cơ sở dùng chung phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ngày 4/8 đã ký Quyết định số 1483/QĐ-TTg phê duyệt Đề án 'Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược'.

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, sinh học và y sinh tiên tiến, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng và lượng tử, biển, đại dương và lòng đất, hàng không và vũ trụ.

Bên cạnh đó, phấn đấu hình thành tối thiểu 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia, tập trung vào các lĩnh vực như thiết bị bay không người lái, sinh học và y sinh, vật liệu, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.