Ngân hàng

[Bài 2] Phát huy thế mạnh của Ngân hàng thương mại trong giao dịch hàng hóa tại thị trường phi tập trung

Vneconomy
· 19 giờ trước

Hiện nay dịch vụ phái sinh giá hàng hóa mà các ngân hàng thương mại đang cung cấp cho doanh nghiệp thực chất là giao dịch phái sinh và thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Do vậy, cùng với việc hoàn thiện thể chế cho thị trường giao dịch hàng hóa, cần định vị lại đúng vai trò để phát huy thế mạnh của ngân hàng thương mại trên thị trường phái sinh hàng hóa.

Hoạt động của sàn giao dịch hàng hóa vật chất không thể tách rời hệ thống kho bãi, kiểm định chất lượng, logistics, chứng từ hàng hóa và thanh toán.
Hoạt động của sàn giao dịch hàng hóa vật chất không thể tách rời hệ thống kho bãi, kiểm định chất lượng, logistics, chứng từ hàng hóa và thanh toán.

Thị trường giao dịch hàng hóa phi tập trung (OTC) – nơi các bên thỏa thuận trực tiếp hợp đồng phái sinh thay vì qua hợp đồng chuẩn hóa trên Sở giao dịch – là kênh quan trọng là một kênh quan trọng phòng ngừa rủi ro biến động giá hàng hóa của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, sự tham gia của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện còn rất khiêm tốn.

Thực trạng này cho thấy các ngân hàng thương mại đang bỏ ngỏ những thế mạnh cốt lõi của mình trong việc cung cấp dịch vụ tài chính cho thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh. Vì vậy, việc định vị lại vai trò của ngân hàng thương mại và tháo gỡ điểm nghẽn bằng việc áp dụng cơ chế bù trừ ròng danh mục chính là chìa khóa để ngân hàng thương mại phát huy tối đa thế mạnh tài chính và quản trị rủi ro, đáp ứng nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá hàng hóa của doanh nghiệp và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính.

BỎ NGỎ THẾ MẠNH CỐT LÕI

Doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu tìm đến thị trường OTC để phòng ngừa rủi ro biến động giá hàng hóa (nguyên liệu, nhiên liệu và nông sản) giữa thời điểm ký hợp đồng và thời điểm giao nhận hàng. Chẳng hạn, một doanh nghiệp xuất khẩu cà phê chưa thu mua đủ nguyên liệu có thể sẽ chịu tổn thất nặng nề khi giá tăng, trong khi doanh nghiệp sản xuất phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu phải đối mặt với nguy cơ chi phí đầu vào leo thang.

Thông qua hợp đồng OTC, doanh nghiệp có thể thỏa thuận trực tiếp giá mua hoặc giá bán với ngân hàng, linh hoạt điều chỉnh khối lượng và thời hạn phù hợp để hạn chế rủi ro biến động giá, thay vì bị đóng khung theo các điều kiện chuẩn hóa khắt khe của hợp đồng niêm yết trên Sở giao dịch, qua đó chủ động hơn trong hoạch định chi phí và lợi nhuận. So với giao dịch hợp đồng phái sinh niêm yết chuẩn hóa trên sở giao dịch, giao dịch OTC linh hoạt hơn trong việc thiết kế hợp đồng theo nhu cầu riêng của doanh nghiệp.

Một điểm nữa cũng tạo nên sự khác biệt về vai trò giữa ngân hàng thương mại, Sở giao dịch hàng hóa và Trung tâm thanh toán bù trừ. Trong giao dịch OTC, ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian tài chính, tiếp nhận nhu cầu phòng ngừa rủi ro, và quản lý rủi ro phát sinh thông qua các giao dịch đối ứng.

Tận dụng thế mạnh bảng cân đối vốn và tín dụng, ngân hàng thương mại có thể thay doanh nghiệp gánh rủi ro biến động giá thông qua các nghiệp vụ giao dịch đối ứng, thẩm định năng lực tín dụng của khách hàng, cấp hạn mức, nhận tài sản bảo đảm là nhà xưởng, kho bãi, hàng hóa tồn kho hoặc hạn mức tín dụng... Đó là những nghiệp vụ mà sở giao dịch hàng hóa hay Trung tâm thanh toán bù trừ không có chức năng thực hiện. Với năng lực quản trị rủi ro trên toàn danh mục, ngân hàng thương mại gộp các vị thế ngược chiều của nhiều doanh nghiệp, tự nắm giữ phần rủi ro ròng trên bảng cân đối và chỉ phòng ngừa phần còn lại khi cần. Đây là điểm khác biệt căn bản so với Sở giao dịch hàng hóa và Trung tâm thanh toán bù trừ.

Trung tâm thanh toán bù trừ tuy cũng bù trừ vị thế nhưng chỉ bù trừ giữa các thành viên đối với hợp đồng chuẩn hóa, không tự gánh rủi ro giá và không cấp tín dụng cho khách hàng.

Trái với vai trò thiết yếu đó, mảng giao dịch OTC của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam lại rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 0,54% tổng giá trị giao dịch phái sinh giá cả hàng hóa của khối ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại hầu như chỉ tập trung vào hoạt động nhận và chuyển lệnh giao dịch phái sinh niêm yết đến các sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài để thu phí dịch vụ nhanh và tối ưu hóa lợi nhuận ngắn hạn (hoạt động môi giới này lại đang chiếm tới hơn 99% doanh số giao dịch phái sinh hàng hóa của khối ngân hàng thương mại).

Vấn đề bất hợp lý ở chỗ, hoạt động này không phải là thế mạnh của ngân hàng thương mại, do không có hạ tầng tổ chức thị trường tập trung và quản lý vị thế như Sở giao dịch hàng hóa, khiến nguồn lực tài chính cốt lõi của ngân hàng bị bỏ ngỏ.

BẤT CẬP TỪ CƠ CHẾ ĐỐI ỨNG 1-1 VÀ NGUY CƠ LẠM DỤNG HỒ SƠ GỐC

Khả năng quản trị các hợp đồng theo tổng thể danh mục khách hàng là vũ khí tài chính mạnh nhất của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất kìm hãm mảng OTC của ngân hàng thương mại lại nằm ở quy định tại Thông tư 40/2016/TT-NHNN khi buộc ngân hàng thương mại khi phát sinh bất kỳ hợp đồng OTC nào với doanh nghiệp đều phải thực hiện giao dịch đối ứng 1-1 (Back-to-Back) với đối tác nước ngoài cho từng hợp đồng riêng lẻ. Điều này triệt tiêu hoàn toàn khả năng bù trừ các vị thế mua – bán ngược chiều trong danh mục khách hàng của ngân hàng. Khả năng quản trị các hợp đồng theo tổng thể danh mục khách hàng là vũ khí tài chính mạnh nhất của ngân hàng thương mại.

VnEconomy

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất kìm hãm mảng OTC của ngân hàng thương mại lại nằm ở quy định tại Thông tư 40/2016/TT-NHNN khi buộc ngân hàng thương mại khi phát sinh bất kỳ hợp đồng OTC nào với doanh nghiệp đều phải thực hiện giao dịch đối ứng 1-1 (Back-to-Back) với đối tác nước ngoài cho từng hợp đồng riêng lẻ. Điều này triệt tiêu hoàn toàn khả năng bù trừ các vị thế mua – bán ngược chiều trong danh mục khách hàng của ngân hàng.

TS.Đinh Thế Thế Hiển Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng. 
TS.Đinh Thế Thế Hiển

Chẳng hạn, ngân hàng thương mại ký hợp đồng bán kỳ hạn 1.000 tấn cà phê cho một doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời ký hợp đồng mua kỳ hạn 700 tấn với một doanh nghiệp khác có bán cà phê nguyên liệu. Nếu hai hợp đồng có cùng mặt hàng, kỳ hạn và giá tham chiếu, ngân hàng có thể bù trừ hai vị thế và chỉ cần phòng ngừa phần chênh lệch 300 tấn.         

Nếu áp dụng cơ chế bù trừ ròng, ngân hàng thương mại chỉ cần phòng ngừa phần chênh lệch 300 tấn nhưng do quy định đối ứng 1-1 theo quy định của Thông tư 40/2016/TT-NHNN, ngân hàng bắt buộc phải mở các vị thế đối ứng cho cả 2 hợp đồng với tổng khối lượng lên tới 1.700 tấn. Cơ chế này đẩy khối lượng phòng ngừa rủi ro bị đẩy lên cao dư thừa khoảng 82%, làm tăng chi phí tài chính cho doanh nghiệp và nguy cơ chảy máu ngoại tệ ký quỹ không cần thiết ra nước ngoài.

Nghiêm trọng hơn, sự thiếu hụt hạ tầng giám sát tập trung và cơ chế chia sẻ dữ liệu thời gian thực giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công Thương đang tạo ra nguy cơ lạm dụng hồ sơ gốc. Do các giao dịch OTC diễn ra dưới hình thức thỏa thuận song phương, cơ quan quản lý thị trường hàng hóa chuyên ngành (Bộ Công Thương) hoàn toàn không có dữ liệu tổng thể về quy mô, khối lượng và trạng thái rủi ro ròng của dòng hàng hóa phái sinh này.

VnEconomy

"Rõ ràng, với những lợi thế về nguồn vốn, năng lực tín dụng, khả năng thẩm định khách hàng và quản trị rủi ro trên toàn bộ danh mục, nếu ngân hàng thương mại chỉ dừng ở vai trò môi giới, chuyển lệnh đơn thuần như hiện nay, phần lớn năng lực ấy bị bỏ ngỏ. Quan trọng hơn, thị trường cũng chưa khai thác được vai trò của ngân hàng thương mại trong việc cung cấp thanh khoản, giảm chi phí phòng ngừa rủi ro và kết nối các nhu cầu mua – bán đối ứng giữa các doanh nghiệp".

ThS.Trần Mạnh Trí Đại học Văn Hiến
ThS.Trần Mạnh Trí

Rủi ro thực tế phát sinh khi một doanh nghiệp có thể lạm dụng 01 bộ Hợp đồng mua bán hàng hóa vật chất thật (hồ sơ gốc) để ký kết nhiều hợp đồng phái sinh OTC tại Ngân hàng A, Ngân hàng B và tiếp tục mở vị thế trên sở giao dịch hàng hóa. Việc biến 1 lô hàng thật thành N vị thế đầu cơ khống sẽ gây vỡ nợ dây chuyền khi giá biến động mạnh, đe dọa trực tiếp đến an toàn hệ thống tài chính.

KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ TỪ CÁC THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

Tại Mỹ, cơ quan giám sát ngân hàng đã ghi nhận hoạt động phái sinh hàng hóa thanh toán bằng tiền là một hình thức trung gian tài chính phục vụ nhu cầu quản lý rủi ro của khách hàng. Hướng dẫn của Văn phòng Kiểm soát tiền tệ Mỹ (OCC) cho phép ngân hàng xác định trạng thái rủi ro ròng và phòng ngừa phần rủi ro còn lại thay vì phải đối ứng hoàn toàn từng hợp đồng riêng lẻ.

Tại Trung Quốc, quy định quản lý hoạt động phái sinh của các tổ chức ngân hàng phân biệt giữa giao dịch phòng ngừa rủi ro, giao dịch phục vụ khách hàng và hoạt động tạo lập thị trường. Theo đó, ngân hàng phải được cấp phép phù hợp với loại hình nghiệp vụ, xây dựng hệ thống quản trị rủi ro và đánh giá mức độ phù hợp của sản phẩm với khách hàng. Giao dịch với khách hàng phải dựa trên nhu cầu thực tế và phù hợp với khả năng chịu rủi ro của họ. Đáng chú ý, cơ chế quản lý cho phép ngân hàng có đủ điều kiện quản lý các vị thế phái sinh trong sổ kinh doanh theo trạng thái ròng, tạo cơ sở để xem xét bù trừ các giao dịch ngược chiều thay vì chỉ quản lý riêng từng hợp đồng.

Tại Hàn Quốc, chính sách quản lý lại là gắn quyền tiếp cận sản phẩm phái sinh OTC với mục đích giao dịch và mức độ chuyên nghiệp của khách hàng. Theo đó, nhà đầu tư chỉ được giao dịch phái sinh OTC trong những điều kiện nhất định, trong đó có mục đích phòng ngừa rủi ro; tổ chức cung cấp dịch vụ phải xác định loại rủi ro khách hàng cần phòng ngừa và lưu giữ hồ sơ liên quan. Cách tiếp cận này cho thấy việc mở rộng hoạt động OTC không đồng nghĩa với nới lỏng kiểm soát mà đi kèm cơ chế xác minh nhu cầu, đánh giá khả năng chịu rủi ro và bảo vệ khách hàng.

THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN CHO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THIẾT LẬP HẠ TẦNG BÁO CÁO DỮ LIỆU 

Hiện nay dịch vụ phái sinh giá hàng hóa mà các ngân hàng thương mại đang cung cấp cho doanh nghiệp thực chất là giao dịch phái sinh và thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Do vậy, cùng với việc hoàn thiện thể chế cho thị trường giao dịch hàng hóa, cần định vị lại đúng vai trò để phát huy thế mạnh của ngân hàng thương mại trên thị trường phái sinh hàng hóa.

Để giải phóng nguồn lực của khối ngân hàng và bảo đảm an toàn hệ thống, hành lang pháp lý mới cần tập trung vào ba giải pháp trọng tâm.

Một là, cho phép cơ chế áp dụng bù trừ ròng danh mục. Thay thế cơ chế đối ứng 1-1 hiện hành bằng quy định cho phép ngân hàng thương mại tổng hợp toàn bộ các hợp đồng OTC có vị thế ngược chiều của nhiều khách hàng để xác định trạng thái rủi ro ròng thực tế. Quy định này giúp loại bỏ tình trạng phòng ngừa rủi ro thừa không cần thiết, tiết kiệm tối đa chi phí cho doanh nghiệp và giảm chảy ngoại tệ ra nước ngoài.

Hai là, bắt buộc thiết lập hạ tầng Kho lưu trữ dữ liệu giao dịch tập trung. Đây là điều kiện tiên quyết để quản lý thị trường OTC hiện đại. Toàn bộ thông tin giao dịch phái sinh của các ngân hàng thương mại và Sở giao dịch hàng hóa phải được kết nối, báo cáo dữ liệu tự động, công khai và chuẩn hóa về Kho dữ liệu tập trung do Bộ Công Thương quản lý. Đây không chỉ là công cụ giúp Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước theo dõi trực quan trạng thái rủi ro ròng trên toàn thị trường theo thời gian thực mà còn là giải pháp kỹ thuật triệt để ngăn chặn tình trạng gian lận thương mại, sử dụng một hồ sơ hàng hóa cơ sở để hình thành nhiều vị thế phái sinh khống tại các tổ chức khác nhau.

Ba là, phân định rõ ranh giới chức năng giữa ngân hàng thương mại, Sở giao dịch hàng hóa và Trung tâm thanh toán bù trừ. Sự phân định này giúp các chủ thể phát huy tối đa thế mạnh của mình và bổ trợ lẫn nhau thay vì chồng chéo về chức năng. Trong đó, việc tháo gỡ điểm nghẽn cơ chế bù trừ ròng cho ngân hàng thương mại phải đi kèm với bộ tiêu chuẩn quản trị rủi ro nghiêm ngặt theo chuẩn mực quốc tế (Basel III): Giới hạn trạng thái rủi ro, an toàn vốn, tài sản bảo đảm và đặc biệt là nghĩa vụ báo cáo dữ liệu bắt buộc. Sự kết hợp giữa cởi trói cơ chế và siết chặt nghĩa vụ báo cáo dữ liệu chính là chìa khóa để vừa tạo dư địa phát triển thị trường phái sinh OTC vừa bảo đảm tính minh bạch và an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia.

Đây chính là lời giải cho bài toán tái cấu trúc hạ tầng quản trị rủi ro ở quy mô quốc gia: Cởi trói nguồn lực cho ngân hàng – Bảo đảm công khai, minh bạch dữ liệu – Kiểm soát hiệu quả rủi ro hệ thống. Sự kết hợp 3 giải pháp này không chỉ giúp thị trường phái sinh Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực quốc tế tiên tiến và từng bước loại bỏ những rủi ro ngầm tiềm ẩn mà còn đưa thị trường OTC trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro giá hiệu quả, đồng hành cùng doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

(*) TS.Đinh Thế Thế Hiển, Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng. 

(*) ThS.Trần Mạnh Trí, Đại học Văn Hiến.

Đón đọc bài 3: Đột phá thể chế, khai thông thế mạnh của ngân hàng trên thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh