Nếu tiếp tục duy trì 2 hành lang pháp lý riêng mà thiếu cơ chế kết nối chia sẻ dữ liệu, hệ thống pháp luật sẽ vô tình tạo ra những khoảng trống trong quản lý đối với các hoạt động có bản chất kinh tế tương đồng, tạo nên nhiều rủi ro cho nền kinh tế, thay vì bảo vệ như xuất phát điểm.
[Bài 3] Đột phá thể chế, khai thông thế mạnh của ngân hàng trên thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh

Dù chọn kênh giao dịch nào, doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng hoạt động và được quản lý bởi cùng một nguyên tắc và một lớp dữ liệu giám sát toàn diện, đưa thị trường phái sinh hàng hóa trở thành bệ đỡ vững chắc cho nền kinh tế hội nhập.
Thị trường hàng hóa phái sinh không chỉ là nơi doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận từ biến động giá mà quan trọng hơn là công cụ tài chính mang tính chất bảo vệ rủi ro giúp doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu chủ động phòng ngừa trước rủi ro biến động giá của thị trường. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng, việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ theo bản chất giao dịch, gắn quyền tham gia với nghĩa vụ quản trị rủi ro và xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý là yêu cầu cấp thiết.
NHU CẦU BẢO VỆ RỦI RO CỦA NỀN KINH TẾ VÀ BẤT CẬP THỊ TRƯỜNG
Việt Nam là quốc gia cung cấp nhiều mặt hàng nông sản, nguyên liệu chủ lực cho thị trường thế giới. Theo số liệu sơ bộ năm 2025 của Cục Hải quan, xuất khẩu hồ tiêu đạt hơn 246.000 tấn, trị giá 1,66 tỷ USD; hạt điều đạt hơn 766.000 tấn, trị giá khoảng 5,23 tỷ USD; cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, trị giá 8,92 tỷ USD; gạo đạt hơn 8 triệu tấn, trị giá 4,1 tỷ USD; cao su đạt 1,9 triệu tấn, trị giá 3,33 tỷ USD.
Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu lớn không đồng nghĩa doanh nghiệp hoàn toàn chủ động về giá. Giá các mặt hàng này chịu ảnh hưởng từ cung – cầu quốc tế và diễn biến trên các thị trường giao dịch hàng hóa nước ngoài, khiến doanh nghiệp xuất khẩu đối mặt với rủi ro biến động doanh thu, dòng tiền và khả năng trả nợ.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng nhập khẩu khối lượng lớn nguyên liệu phục vụ sản xuất, và tiêu dùng trong nước. Số liệu từ Cục Hải quan năm 2025 cho biết, nhập khẩu ngô cả năm đạt khoảng 11,91 triệu tấn, trị giá 2,95 tỷ USD; lúa mì đạt 5,45 triệu tấn, trị giá 1,46 tỷ USD; đậu tương đạt 2,61 triệu tấn, trị giá 1,21 tỷ USD.
Thực tế này cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với rủi ro biến động giá ở cả hai chiều: đầu ra xuất khẩu và đầu vào nhập khẩu. Do đó, nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá không chỉ đặt ra với doanh nghiệp xuất khẩu nông sản mà còn với các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến và tiêu dùng trong nước.
Thông qua các công cụ giao dịch phái sinh, doanh nghiệp có thể xác lập trước mức giá hoặc bù đắp một phần tổn thất phát sinh khi giá thị trường biến động bất lợi. Nếu được thiết kế phù hợp với nhu cầu và hoạt động kinh doanh thực tế, các công cụ này không đơn thuần phục vụ mục đích đầu tư tài chính mà còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quản trị chi phí, ổn định dòng tiền và bảo vệ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Hiện hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam vận hành qua hai kênh với cơ sở pháp lý và cơ chế quản lý khác nhau. Một kênh thông qua Sở Giao dịch hàng hóa chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn, với quy định về tổ chức thị trường, thành viên, hợp đồng và quản lý vị thế. Trong khi đó, ngân hàng thương mại được cung ứng sản phẩm phái sinh giá cả hàng hóa theo Thông tư 40/2016/TT-NHNN, bao gồm giao dịch với khách hàng và chuyển lệnh hợp đồng tiêu chuẩn lên các sở giao dịch hàng hóa quốc tế.
Thực tế, Việt Nam có Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam (MXV) đã liên thông với các Sở giao dịch hàng hóa lớn trên thế giới như Sở giao dịch hàng hóa Chicago (CME), London (LME), Singapore (SGX), Osaka (OSE); Bursa Malaysia Derivatives – BMD… cùng với 16 ngân hàng thương mại được phép cung cấp sản phẩm phái sinh giá hàng hóa (các ngân hàng thương mại của Việt Nam làm đại lý nhận lệnh và chuyển lệnh giao dịch của khách hàng trong nước đến các sở giao dịch hàng hóa quốc tế thông qua Thành viên của các sở này).
Tuy nhiên, do vận hành qua 2 kênh điều chỉnh bởi 2 hệ thống pháp luật riêng biệt nên thị trường sẽ bộc lộ 3 bất cập lớn.
Thứ nhất, mức độ kiểm soát phụ thuộc vào kênh doanh nghiệp chọn, chứ không phụ thuộc vào rủi ro của vị thế. Đơn cử như cùng 1 giao dịch cà phê, vị thế đi qua Sở giao dịch hàng hóa nằm dưới giới hạn vị thế và danh mục hàng hóa của Sở, còn vị thế đi qua ngân hàng thương mại lại chưa có quy định tương đương. Hệ quả là mức ràng buộc đối với doanh nghiệp và phạm vi cơ quan quản lý có thể kiểm soát, được quyết định bởi việc lựa chọn kênh chứ không phải bởi quy mô hay tính chất rủi ro của vị thế.
Thứ hai, thiếu kho dữ liệu tập trung khiến không cơ quan quản lý nào nhìn thấy toàn bộ vị thế của một doanh nghiệp nếu doanh nghiệp đó mở vị thế ở cả hai kênh hoặc ở nhiều ngân hàng. Lý do là vì Việt Nam chưa có kho lưu trữ dữ liệu giao dịch tập trung nên tiềm ẩn nguy cơ một bộ hợp đồng xuất khẩu thật bị dùng để mở nhiều vị thế khống ở nhiều nơi.
Thứ ba, trách nhiệm giám sát các giao dịch này chưa phân rõ giữa Ngân hàng Nhà nước hay Bộ Công Thương.
BÀI HỌC QUẢN TRỊ TỪ CÁC THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN
Nghiên cứu mô hình tại các quốc gia phát triển, trong giao dịch hàng hóa phái sinh, các ngân hàng thương mại tham gia với 4 vai trò: Khách hàng phòng ngừa rủi ro cho chính mình; Cung cấp dịch vụ phòng ngừa cho doanh nghiệp; Tạo lập thị trường hoặc tự doanh; và Cung cấp dịch vụ tài chính truyền thống (thanh toán bù trừ, lưu ký, ký quỹ). Tuy nhiên, tại mỗi quốc gia khác nhau, việc quy định hoạt động của ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh được điều chỉnh phù hợp với đặc thù kinh tế từng quốc gia.
Tại Mỹ, các chủ thể nhận lệnh và tiền ký quỹ của khách hàng để giao dịch phái sinh niêm yết phải đăng ký là thành viên môi giới giao dịch tương lai (FCM) với Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai (CFTC) và quản lý tách biệt tiền của khách hàng. Vì vậy, các tập đoàn như J.P. Morgan, Citi Bank, Bank of America… thành lập công ty con và đăng ký làm thành viên môi giới giao dịch tương lai. Với giao dịch OTC, ngân hàng có thể thực hiện hoán đổi hàng hóa trong pháp nhân ngân hàng nhưng phải đăng ký đại lý hoán đổi (Swap Dealer) khi vượt ngưỡng miễn trừ 8 tỷ USD trong 12 tháng, đồng thời tuân thủ yêu cầu về minh bạch giá, công bố rủi ro, ký quỹ và báo cáo dữ liệu. Quy định ký quỹ cũng được phân công giữa cơ quan quản lý ngân hàng và CFTC tùy loại hình chủ thể.
Tại Liên minh châu Âu, ngân hàng có thể làm thành viên bù trừ hoặc môi giới trực tiếp trên Sở giao dịch hàng hóa, chịu giám sát của cơ quan quản lý quốc gia như BaFin của Đức hoặc AMF của Pháp trong khuôn khổ MiFID II và EMIR. Cơ quan Quản lý Chứng khoán và Thị trường Châu Âu (ESMA) ban hành chuẩn kỹ thuật và điều phối giám sát. Giao dịch niêm yết bắt buộc được thực hiện qua hệ thống của Sở giao dịch hàng hóa và bù trừ tập trung qua Trung tâm Thanh toán bù trừ; dữ liệu giao dịch phải được báo cáo về kho lưu trữ đăng ký.
Tại Trung Quốc, áp dụng cơ chế phân tầng theo năng lực. Trên thị trường niêm yết, ngân hàng không làm thành viên môi giới mà tham gia với tư cách khách hàng tổ chức thông qua công ty thành viên được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Với giao dịch OTC, cơ quan quản lý ngân hàng cấp giấy phép cơ bản cho hoạt động phòng ngừa rủi ro của chính ngân hàng và giấy phép thông thường cho những ngân hàng đáp ứng yêu cầu cao hơn về hệ thống giao dịch, quản trị rủi ro và nhân sự, với giới hạn vốn rủi ro thị trường ở mức 3% vốn cốt lõi.
Điểm chung của ba hệ thống là điều kiện tham gia gắn với từng vai trò; giao dịch phải báo cáo về kho dữ liệu tập trung; trách nhiệm được phân công theo chức năng quản lý; và ngân hàng không có kênh chuyển lệnh riêng nằm ngoài hệ thống Sở đối với giao dịch phái sinh niêm yết.
BỐN ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CHO DỰ THẢO LUẬT GIAO DỊCH HÀNG HÓA PHÁI SINH
Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế, nhìn lại khuôn khổ pháp lý hiện hành của Việt Nam có thể thấy những khoảng trống và điểm chồng chéo cần sớm được tháo gỡ. Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ tình trạng pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng, cản trở thực thi; đồng thời yêu cầu xây dựng pháp luật bám sát thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Kết luận 09-KL/TW ngày 10/3/2026 đặt ra yêu cầu hoàn thiện cấu trúc vận hành của hệ thống pháp luật và nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật. Đây là kim chỉ nam cho thị trường hàng hóa phái sinh, nơi chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật như thương mại, ngân hàng, ngoại hối, đầu tư, quản lý thị trường và quản trị rủi ro tài chính.
Do vậy, khi nâng tầm quản lý lĩnh vực giao dịch hàng hóa lên cấp Luật, việc thể chế hóa đòi hỏi Việt Nam cần tập trung vào bốn định hướng chiến lược.
Thứ nhất, xử lý dứt điểm điểm nghẽn sự giao thoa giữa Thông tư 40 và các quy định về giao dịch hàng hóa, khi luật hóa lĩnh vực này.
Thứ hai, quy định điều kiện, giới hạn an toàn vốn và cơ quan giám sát riêng biệt cho từng vai trò của ngân hàng: từ đối tác giao dịch OTC, trung gian trong giao dịch niêm yết đến hoạt động tự doanh (bắt buộc lập công ty con độc lập).
Thứ ba, quy định nghĩa vụ báo cáo, chuẩn hóa dữ liệu và kết nối dữ liệu liên bộ giữa Ngân hàng nhà nước, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính, theo chức năng: an toàn vốn, giám sát thị trường, thuế và kế toán.
Thứ tư, quán triệt nguyên tắc 'Một thị trường - Một cơ chế pháp lý' trên cơ sở thống nhất về nguyên tắc và khuôn khổ: cùng một loại hoạt động phái sinh thì chịu cùng một quy tắc hoạt động, quản lý. Trong đó, thị trường niêm yết được quản lý chuẩn hóa và giao dịch tập trung qua Sở giao dịch hàng hóa, thực hiện bù trừ qua Trung tâm thanh toán bù trừ. Thị trường OTC, hợp đồng giao dịch được thiết kế linh hoạt tùy theo nhu cầu doanh nghiệp, ngân hàng thương mại với vai trò là đối tác giao dịch OTC được áp dụng cơ chế bù trừ ròng danh mục gắn với kiểm soát chặt chẽ thông qua nghĩa vụ báo cáo dữ liệu về Kho dữ liệu tập trung do Bộ Công Thương quản lý.
Đồng bộ hóa pháp luật, không phải là thêm một văn bản quy định mà là tạo lập một môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch. Dù chọn kênh giao dịch nào, doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng hoạt động và được quản lý bởi cùng một nguyên tắc và một lớp dữ liệu giám sát toàn diện, đưa thị trường phái sinh hàng hóa trở thành bệ đỡ vững chắc cho nền kinh tế hội nhập.
(*)TS. Đinh Thị Thu Hà, Trưởng ngành Tài chính Ngân hàng, Đại học Victoria Thái Bình Dương.
(*) TS. Đinh Thế Hiển, Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng.