Ngân hàng

Cách tiếp cận mới với tín dụng xanh

Tinnhanhck
· 17 giờ trước
TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank, Phó Trưởng Ban chỉ đạo ESG Agribank

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank, Phó Trưởng Ban chỉ đạo ESG Agribank

Khoảng cách từ tiềm năng giảm phát thải tới doanh thu

Định giá carbon ngày càng trở thành một công cụ kinh tế quan trọng trên thế giới. Báo cáo 'Tình hình và xu hướng định giá carbon năm 2026' (State and Trends of Carbon Pricing 2026) của Ngân hàng Thế giới (World Bank) ghi nhận 87 chính sách định giá carbon trực tiếp, bao phủ hơn 29% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu; các công cụ này tạo hơn 107 tỷ USD nguồn thu ngân sách trong năm 2025 và mức giá carbon trực tiếp bình quân gần 21 USD/tấn CO2 tương đương. Những con số này không hàm ý một mức giá chung cho mọi tín chỉ, nhưng cho thấy chi phí phát thải ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Đối với Agribank, vấn đề này gắn trực tiếp với khách hàng và địa bàn hoạt động. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vừa chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, vừa có dư địa giảm phát thải trong lúa gạo, chăn nuôi, lâm nghiệp, năng lượng sinh khối, xử lý chất thải và kinh tế tuần hoàn.

Để trả lời câu hỏi ngân hàng có thể tài trợ cho quá trình tạo ra kết quả giảm phát thải như thế nào và khi nào giá trị carbon đủ chắc chắn để đi vào quyết định tín dụng, trước hết, cần phân biệt hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Hạn ngạch là lượng phát thải được phép trong một cơ chế tuân thủ và kỳ tuân thủ cụ thể. Trong khi đó, tín chỉ carbon được hình thành từ kết quả giảm phát thải hoặc hấp thụ khí nhà kính đáp ứng phương pháp, tiêu chuẩn và cơ chế ghi nhận tương ứng. Một tín chỉ thường đại diện cho một tấn CO2 tương đương. Quyền, nghĩa vụ và mức độ chắc chắn tài chính của hai loại hàng hóa này không giống nhau.

Tương tự, thị trường tuân thủ được hình thành từ nghĩa vụ pháp lý, còn thị trường tự nguyện xuất phát từ nhu cầu mua và sử dụng tín chỉ cho những mục tiêu nhất định. Một tín chỉ carbon có chất lượng tốt không mặc nhiên được chấp nhận ở mọi thị trường; điều kiện sử dụng phụ thuộc vào cơ chế, tiêu chuẩn, mục đích của bên mua và các quy định có liên quan. Với giao dịch quốc tế theo Điều 6, Thỏa thuận Paris, vấn đề hạch toán và tránh tính trùng kết quả giảm nhẹ đặc biệt quan trọng.

Từ tiềm năng giảm phát thải đến doanh thu là cả một chuỗi có điều kiện. Một diện tích rừng, một cánh đồng hay một hệ thống xử lý chất thải có tiềm năng tác động tích cực đối với môi trường chưa đủ để xác định ngay số tín chỉ có thể bán. Dự án phải lựa chọn phương pháp luận phù hợp, xác định đường cơ sở, duy trì dữ liệu, đo lường - báo cáo - thẩm tra (MRV) và hoàn tất thủ tục cấp phát.

Với ngân hàng, điều quan trọng là phải phân biệt các trạng thái: có tiềm năng giảm phát thải, dự án đã được đăng ký, kết quả đã được thẩm tra, tín chỉ đã được phát hành, đã ký hợp đồng mua bán và đã được thanh toán. Mỗi trạng thái có mức độ chắc chắn khác nhau và không thể quy đổi cơ học thành cùng một nguồn trả nợ.

Chính ở đây xuất hiện khoảng lệch thời gian cốt lõi của tài chính carbon: nhu cầu vốn phát sinh từ giai đoạn chuẩn bị và đầu tư, trong khi tín chỉ chỉ xuất hiện sau khi có kết quả giảm phát thải được đo lường và xác minh; doanh thu còn phụ thuộc vào giao dịch và thanh toán. Khoảng lệch này tạo ra không gian cho tín dụng, tài trợ cầu nối, quản lý dòng tiền.

Đến cuối tháng 3/2026, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 30.000 tỷ đồng

Đến cuối tháng 3/2026, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 30.000 tỷ đồng

Bốn điểm nghẽn trong phát triển tài chính xanh

Khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn chuẩn bị sang vận hành thí điểm. Nền tảng được hình thành từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và được cụ thể hóa qua Quyết định 232/QĐ-TTg về Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam; Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước; Nghị định 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon; Nghị định 83/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khung giảm nhẹ phát thải khí nhà kính.

Từ năm 2022 đến nay, danh sách cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính đã tăng từ 1.912 lên 2.441, tăng gần 28%. Quyết định 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và danh mục phân loại xanh, Quyết định 46/2026/QĐ-TTg về hướng dẫn xác định dự án xanh tạo thêm cơ sở nhận diện các dự án xanh. Tuy nhiên, một dự án thuộc danh mục phân loại xanh không đồng nghĩa với việc dự án đó có tín chỉ carbon. Ngược lại, dự án có tín chỉ cũng không mặc nhiên đáp ứng điều kiện cấp tín dụng.

Hạ tầng giao dịch carbon cũng đã bắt đầu hình thành. Theo dữ liệu của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), mã hạn ngạch VN2025 cho giai đoạn tuân thủ 2025 - 2026 có tổng lượng 511.473.846 tấn CO2, phân bổ cho 110 cơ sở; ngày giao dịch đầu tiên là 29/6/2026 và ngày giao dịch cuối cùng là 24/12/2027. Đây là bước chuyển quan trọng từ khung chính sách sang hạ tầng giao dịch thực tế.

Tuy nhiên, dữ liệu công khai tại HNX cho thấy, trong các ngày giao dịch gần đây, khối lượng và giá trị giao dịch đều bằng 0. Điều này không có nghĩa thị trường không có tiềm năng, nhưng cho thấy ngân hàng chưa nên mặc định rằng đã tồn tại một mức giá tham chiếu ổn định hoặc thanh khoản sâu để sử dụng trực tiếp trong thẩm định phương án vay vốn.

Việt Nam đồng thời đã có kinh nghiệm thương mại hóa kết quả giảm phát thải trên thị trường quốc tế. Tháng 3/2024, Việt Nam nhận 51,5 triệu USD từ World Bank cho 10,3 triệu tấn kết quả giảm phát thải được xác minh trong Chương trình giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ. Bài học là, kết quả môi trường chỉ trở thành dòng tiền khi có phương pháp, dữ liệu, thẩm tra, hợp đồng và cơ chế phân chia lợi ích rõ ràng.

Từ góc độ tài chính, nhu cầu vốn xuất hiện ở nhiều thời điểm khác nhau. Giai đoạn chuẩn bị phát sinh chi phí khảo sát, đánh giá tính khả thi, xây dựng hồ sơ, phương pháp luận, dữ liệu ban đầu và thuê tư vấn. Khi triển khai, nhu cầu lớn hơn nằm ở vốn trung và dài hạn cho thiết bị, cơ sở hạ tầng, công nghệ cùng vốn lưu động. Khi dự án vận hành, doanh nghiệp tiếp tục cần chi phí MRV, thẩm tra độc lập và tài trợ cầu nối trong thời gian chờ cấp phát hoặc thanh toán. Đến giai đoạn thương mại hóa, nhu cầu chuyển sang định giá, đàm phán hợp đồng, thanh toán, ngoại hối, bảo lãnh và quản lý dòng tiền.

Một cấu trúc tín dụng chung khó phù hợp với tất cả những nhu cầu này. Thiết bị tạo ra tài sản hữu hình, trong khi chi phí phát triển hồ sơ và dữ liệu khó dùng làm tài sản bảo đảm. Vốn vụ mùa có chu kỳ ngắn, còn thời gian hình thành tín chỉ có thể kéo dài qua nhiều kỳ giám sát. Do đó, tài chính carbon cần được thiết kế theo từng giai đoạn và mức độ rủi ro, thay vì gắn một 'nhãn carbon' cho một sản phẩm tín dụng duy nhất.

Bốn điểm nghẽn nổi lên khá rõ trong phát triển tài chính xanh. Thứ nhất là khả năng chuẩn bị dự án. Doanh nghiệp có nhu cầu và định hướng giảm phát thải nhưng chưa xây dựng được phương án khả thi do chưa rõ doanh thu, công nghệ, đầu ra và trách nhiệm của các bên liên quan. Thứ hai là dữ liệu và MRV, đặc biệt với nông nghiệp, lâm nghiệp có rủi ro phân tán. Nếu từng hộ tự tổ chức toàn bộ việc đo lường và xác minh, chi phí sẽ cao và khó xác định; mô hình theo hợp tác xã hoặc vùng nguyên liệu có thể chia sẻ chi phí nhưng đòi hỏi quản trị và kỷ luật dữ liệu. Thứ ba là độ chắc chắn của nguồn thu. Doanh nghiệp có thể giảm phát thải trên thực tế nhưng chưa được cấp tín chỉ, hoặc có tín chỉ nhưng chưa có người mua, hay có hợp đồng mua bán tín chỉ nhưng thanh toán chậm hoặc phát sinh tranh chấp. Thứ tư là phân bổ quyền và lợi ích. Nếu người nông dân, hộ kinh doanh thay đổi quy trình nhưng quyền định đoạt tín chỉ và phần lớn lợi ích nằm ở bên khác mà hợp đồng không rõ, động lực duy trì dự án sẽ yếu và rủi ro xã hội tăng.

Trong hệ sinh thái đó, ngân hàng không thay thế tổ chức tư vấn, tổ chức MRV, cơ quan quản lý tiêu chuẩn hay sàn giao dịch. Vai trò phù hợp của ngân hàng là cung cấp vốn, quản lý dòng tiền, huy động nguồn lực, quản trị rủi ro tài chính và kết nối các chủ thể.

Chi phí phát thải ngày càng được lượng hóa vào các quyết định đầu tư và kinh doanh

Chi phí phát thải ngày càng được lượng hóa vào các quyết định đầu tư và kinh doanh

Hai tầng dòng tiền trong một khoản tín dụng xanh

Giá trị carbon có thể tác động đến phương án tài chính qua ba kênh. Thứ nhất, đầu tư ít phát thải có thể giảm chi phí sản xuất nhờ tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, nước hoặc vật tư. Thứ hai, với doanh nghiệp thuộc phạm vi tuân thủ, giảm phát thải có thể giảm nhu cầu mua bổ sung hạn ngạch. Thứ ba, dự án đáp ứng điều kiện của cơ chế tín chỉ có thể phát sinh doanh thu từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ. Ba kênh này cần được lượng hóa riêng để tránh cộng trùng. Từ đó, hình thành nguyên tắc 'hai tầng dòng tiền'. Dòng tiền sản xuất - kinh doanh cốt lõi là nền tảng trả nợ, trong khi doanh thu carbon là tầng bổ sung và chỉ được ghi nhận theo mức độ chắc chắn. Cách tiếp cận này cho phép ngân hàng hỗ trợ dự án từ sớm nhưng không biến một kỳ vọng môi trường chưa được xác nhận thành nguồn trả nợ chắc chắn.

Ngân hàng có thể phân chia mức độ chắc chắn của doanh thu carbon thành ba mức.

Ở mức thứ nhất, dự án mới có ý tưởng, diện tích, công nghệ hoặc ước tính giảm phát thải, thu nhập carbon chỉ nên nằm trong kịch bản bổ sung, chưa dùng làm nguồn trả nợ cơ sở.

Mức thứ hai, dự án đã có phương pháp phù hợp, dữ liệu đủ chất lượng, được đăng ký theo cơ chế tương ứng và có hợp đồng hoặc đầu ra đáng tin cậy. Khi đó, có thể xem xét ghi nhận một phần giá trị sau khi áp dụng hệ số điều chỉnh rủi ro.

Mức thứ ba, tín chỉ đã được phát hành hoặc khoản phải thu từ hợp đồng mua bán đã hình thành đủ căn cứ. Ngân hàng có thêm cơ sở để xem xét tài trợ, nhưng vẫn phải đánh giá quyền chuyển nhượng, điều kiện thanh toán, năng lực bên mua và rủi ro pháp lý.

Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa với những lĩnh vực mà Agribank có lợi thế. Đến giữa năm 2026, tổng tài sản của Agribank trên 2,7 triệu tỷ đồng, nguồn vốn huy động trên 2,5 triệu tỷ đồng và dư nợ cho vay nền kinh tế vượt 2 triệu tỷ đồng. Đến tháng 8/2026, dư nợ dành cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đạt hơn 1,34 triệu tỷ đồng, chiếm 64,7% tổng dư nợ. Đến thời điểm 31/7/2026, toàn hệ thống có trên 58.000 tổ vay vốn với hơn 910.000 thành viên và tổng dư nợ trên 216.000 tỷ đồng.

Về tín dụng xanh, đến cuối tháng 3/2026, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 30.000 tỷ đồng. Năm 2026, Ngân hàng tiếp tục triển khai chương trình tín dụng xanh 3.000 tỷ đồng cho khách hàng cá nhân và chương trình tài trợ nông nghiệp sạch, công nghệ cao 50.000 tỷ đồng. Trong Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Agribank triển khai chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ với quy mô tối thiểu 30.000 tỷ đồng. Đây là nền tảng để Ngân hàng thử nghiệm cách quản lý dữ liệu, dòng tiền và lợi ích carbon trong những chuỗi sản xuất có tổ chức, thay vì tiếp cận từng dự án riêng lẻ.

Ngân hàng không chỉ cấp vốn, mà kết nối hệ sinh thái

Từ nền tảng hiện có, vai trò của Agribank trong tài chính carbon có thể được xác định theo năm hướng. Trước hết là tài trợ cho hoạt động giảm phát thải, từ tài sản, công nghệ, vốn lưu động đến chi phí MRV và tài trợ cầu nối, với ưu tiên dành cho những phương án có dòng tiền sản xuất khả thi. Tiếp đó là kết nối hệ sinh thái, đưa khách hàng đến với các đơn vị tư vấn, tổ chức MRV, tổ chức phát triển, quỹ khí hậu, nhà đầu tư và bên mua. Ngân hàng giữ vai trò đầu mối kết nối nhưng không thay thế chức năng xác minh kỹ thuật.

Ngân hàng cũng có thể phát huy vai trò trong thanh toán và quản lý dòng tiền thông qua tài khoản dự án, thu hộ - chi hộ, thanh toán trong nước và quốc tế, ngoại hối, bảo lãnh, đồng thời hỗ trợ phân phối doanh thu theo quyền và thỏa thuận đã được xác lập.

Một hướng khác là huy động và dẫn vốn tài chính khí hậu, khai thác nguồn vốn ưu đãi, tài chính hỗn hợp và cơ chế chia sẻ rủi ro từ các tổ chức tài chính phát triển, gắn nguồn vốn với yêu cầu quản trị ESG và báo cáo tác động. Xa hơn, Agribank có thể trở thành đối tác tài chính chiến lược đồng hành cùng khách hàng trong quá trình chuyển đổi xanh, kết hợp tín dụng xanh, tài trợ chuỗi cung ứng, quản lý dòng tiền và các dịch vụ ngân hàng để hỗ trợ giảm phát thải, đáp ứng yêu cầu ESG, Net Zero và chuỗi cung ứng.

Thứ tự này phản ánh mức độ khả thi trong giai đoạn hiện nay. Agribank nên bắt đầu từ chức năng ngân hàng cốt lõi và năng lực sẵn có; các sản phẩm tài chính chuyên biệt dựa trên doanh thu tín chỉ hoặc tài sản carbon chỉ nên mở rộng khi quyền tài sản, định giá, thanh khoản và cơ chế xử lý rủi ro đủ rõ.

Để thực hiện, Agribank có thể xây dựng khung nhận diện dự án giảm phát thải và bộ câu hỏi thẩm định tài chính carbon, tích hợp với quy trình tín dụng xanh và hệ thống quản lý rủi ro môi trường - xã hội hiện có. Một số chuỗi có tổ chức tốt như lúa phát thải thấp, chăn nuôi - biogas, lâm nghiệp bền vững, xử lý chất thải và năng lượng sinh khối có thể được lựa chọn để thí điểm, sau đó mở rộng trên cơ sở đánh giá chi phí MRV, độ trễ thu tiền và hiệu quả tín dụng.

Song song với đó là thiết lập mạng lưới đối tác kỹ thuật được sàng lọc, phân định rõ trách nhiệm của ngân hàng, đơn vị tư vấn, tổ chức MRV, chủ dự án và bên mua; phát triển năng lực cán bộ theo mô hình liên ngành giữa tín dụng, rủi ro, pháp lý, ESG, thanh toán và ngoại hối; xây dựng hệ thống dữ liệu và chỉ tiêu quản trị không chỉ theo dõi dư nợ mà cả khả năng trả nợ, chi phí tạo một đơn vị giảm phát thải được xác minh, thời gian từ MRV đến thu tiền, thu nhập thực nhận của người sản xuất và mức độ tuân thủ.

Lộ trình đề xuất đi từ nền tảng đến chuyên biệt. Giai đoạn 2026 - 2028 tập trung vào dữ liệu, năng lực, đối tác và thí điểm; giai đoạn 2029 - 2032 mở rộng hoạt động gắn với thị trường trong nước khi cơ chế vận hành ổn định hơn; từ năm 2033 trở đi mới nghiên cứu sâu các sản phẩm dựa trên doanh thu hoặc khoản phải thu carbon. Đây là khung nghiên cứu nội bộ và cần được cập nhật theo tốc độ hoàn thiện pháp lý cũng như thanh khoản thực tế của thị trường.

Một ví dụ có thể minh họa cách tiếp cận này là chuỗi lúa phát thải thấp. Nhóm nông dân liên kết qua hợp tác xã với doanh nghiệp thu mua; các bên thống nhất quy trình canh tác, quản lý nước và ghi chép dữ liệu. Đơn vị kỹ thuật xác định phương pháp theo dõi, hỗ trợ MRV và chuẩn bị hồ sơ. Ngân hàng xem xét nhu cầu vốn theo từng chủ thể: vốn vụ mùa cho hộ sản xuất; vốn dịch vụ, thiết bị cho hợp tác xã khi đủ điều kiện; vốn thu mua và chế biến cho doanh nghiệp đầu mối.

Để khơi thông dòng vốn xanh gắn với thị trường carbon, trước hết cần làm rõ quyền sở hữu, quyền định đoạt và quyền hưởng lợi đối với kết quả giảm phát thải, tín chỉ; đồng thời hoàn thiện cơ chế xử lý khoản phải thu, giao dịch bảo đảm, kế toán, thuế và ngoại hối đối với các giao dịch có yếu tố carbon.

Dữ liệu và MRV cần được coi là hạ tầng thiết yếu. Cần có cơ chế giảm chi phí MRV cho hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vùng nguyên liệu; khuyến khích phương pháp theo nhóm, nền tảng dữ liệu dùng chung và chuẩn hóa thông tin ngay từ đầu dự án. Cùng với phát triển nguồn cung, thị trường cũng cần được tạo cầu, gắn việc hỗ trợ dự án từ sớm với yêu cầu của bên mua, tiêu chuẩn tín chỉ, thời kỳ phát sinh, chứng từ, tuyên bố sử dụng và điều kiện thanh toán.

Tài chính hỗn hợp và cơ chế chia sẻ rủi ro cũng cần được khuyến khích trong giai đoạn chuẩn bị, thí điểm, MRV và đầu tư công nghệ. Hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh hoặc vốn ưu đãi nên gắn với từng loại rủi ro cụ thể, không thay thế nguyên tắc thẩm định tín dụng. Đồng thời, quyền lợi của người sản xuất và cộng đồng phải được bảo đảm thông qua những hợp đồng rõ ràng về chi phí, quyền dữ liệu, quyền hưởng doanh thu, thời hạn và cơ chế khiếu nại.

Thị trường carbon làm thay đổi cách nhìn về giá trị của hoạt động giảm phát thải, nhưng giá trị đó chỉ hỗ trợ quyết định tài chính khi ba mắt xích được nối liền: bằng chứng môi trường đủ tin cậy, quyền kinh tế đủ rõ và dòng tiền đủ khả năng thu hồi, mang lại hiệu quả tích cực. Đối với ngân hàng thương mại, đây là ranh giới giữa 'tiềm năng carbon' và 'nguồn thu có thể thẩm định'.

Với Agribank, lợi thế lớn nhất không nằm ở việc trở thành nhà giao dịch tín chỉ, mà ở khả năng cung ứng vốn, dịch vụ ngân hàng và năng lực kết nối đến nơi tạo ra kết quả giảm phát thải: cánh đồng, trang trại, rừng, nhà máy và chuỗi cung ứng. Hướng đi phù hợp là tài trợ trên cơ sở hiểu rõ dự án, quản trị rủi ro theo từng giai đoạn, bảo đảm quyền lợi của người sản xuất và từng bước đưa giá trị carbon đã được kiểm chứng vào quyết định tín dụng. Khi người sản xuất được hưởng lợi, doanh nghiệp có phương án khả thi và ngân hàng kiểm soát được rủi ro, dòng vốn xanh mới có điều kiện mở rộng bền vững.