Can thiệp tỷ giá yên Nhật: 5 vấn đề đáng chú ý ở châu Á

Đầu tháng này, Mỹ và Nhật Bản đã có bước đi hiếm thấy khi phối hợp can thiệp để chặn đà lao dốc của đồng yên, qua đó không chỉ ổn định đồng tiền Nhật Bản mà còn phát đi một thông điệp lớn hơn tới thị trường tài chính châu Á…
Việc giới chức Mỹ trực tiếp mua yên - mới là lần thứ hai kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998 - cho thấy Washington không coi đà lao dốc của đồng tiền này chỉ là vấn đề riêng của Nhật Bản. Động thái đó cũng phát đi tín hiệu rằng giới chức các nước châu Á có thể sẽ can thiệp mạnh tay hơn nếu đồng nội tệ tiếp tục giảm sâu.
Thông điệp này đặc biệt đáng chú ý sau một năm hàng loạt đồng tiền trong khu vực, từ won Hàn Quốc đến rupiah Indonesia, liên tục suy yếu dù xuất khẩu tăng trưởng mạnh.
Theo tờ báo Nikkei Asia, động thái hỗ trợ đồng yên đặt ra 5 vấn đề đáng chú ý đối với các đồng tiền yếu cũng như các các nền kinh tế châu Á nói chung.
KHÔNG CHỈ ĐỒNG YÊN MẤT GIÁ
Đồng yên không phải đồng tiền châu Á duy nhất giảm mạnh so với USD trong năm nay. Đồng tiền của Hàn Quốc, Ấn Độ và Đài Loan cũng chịu áp lực lớn, một phần do giá năng lượng tăng vọt sau khi chiến tranh Iran bùng phát.
Chính sách tiền tệ tương đối nới lỏng tại Nhật Bản và Trung Quốc khiến lãi suất ở hai nước này duy trì ở mức thấp, làm gia tăng chênh lệch với lãi suất tham chiếu 3,75% của Mỹ. Lãi suất tại Nhật Bản thấp hơn Mỹ 2,75 điểm phần trăm. Trong khi đó, lãi suất tại Ấn Độ và Indonesia lần lượt cao hơn Mỹ 1,5 và 2 điểm phần trăm.
Tuy nhiên, nguyên nhân lớn hơn là sức hút của thị trường chứng khoán Mỹ. S&P 500 lập kỷ lục vào ngày 7/8 và tăng 13% từ đầu năm, nhờ sự lạc quan về triển vọng tăng trưởng từ làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI) và kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ thắt chặt chính sách với tốc độ chậm hơn.
'Thị trường chứng khoán Mỹ tăng rất mạnh, trong bối cảnh nhà đầu tư hào hứng với AI và các cổ phiếu liên quan đến lĩnh vực này. Đây là một yếu tố chung tác động đến các đồng tiền châu Á', ông Louis Kuijs, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại S&P Global Ratings, nhận định với Nikkei Asia.
Dù xuất khẩu các sản phẩm liên quan đến AI tăng mạnh và mang về nguồn ngoại tệ lớn, đồng tiền của Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc vẫn chịu sức ép do nhà đầu tư rút nhiều tiền khỏi thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Theo ông Kuijs, trong quý 2, lượng vốn rút ròng khỏi Hàn Quốc vượt 125 tỷ USD, còn tại Trung Quốc là hơn 193 tỷ USD.
ĐỒNG YÊN CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẶC BIỆT LỚN TRONG KHU VỰC
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998, đây mới là lần thứ hai Bộ Tài chính Mỹ can thiệp vào thị trường ngoại hối để hỗ trợ đồng yên.
Các nhà phân tích cho rằng việc đồng yên tiếp tục suy yếu trong khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) nâng lãi suất có thể khiến nhà đầu tư rút khỏi các giao dịch chênh lệch lãi suất, còn gọi là 'carry-trade'. Với chiến lược carry-trade, nhà đầu tư vay yên với lãi suất thấp, sau đó dùng số tiền đó để mua các tài sản có lợi suất cao hơn ở nước ngoài.
Khi lợi suất tại Nhật Bản tăng, chênh lệch lợi nhuận giữa tài sản trong và ngoài nước thu hẹp, khiến chiến lược này bớt hấp dẫn. Nhà đầu tư có thể bán tài sản ở nước ngoài để đưa tiền trở lại Nhật Bản, trong đó có trái phiếu chính phủ Mỹ. Áp lực bán sẽ đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ lên cao và cuối cùng làm tăng chi phí đi vay của nước này.
'Từ góc nhìn của Mỹ, điều đáng lo ngại là lãi suất tại Nhật Bản tăng trong khi đồng yên suy yếu có thể đẩy lãi suất tại Mỹ lên cao và gây ra một sự cố trong hệ thống tài chính toàn cầu', ông Paul Cavey, nhà kinh tế học và nhà sáng lập East Asia Econ, nhận xét.
Theo ông Cavey, biến động của đồng yên có ảnh hưởng lớn đến các đồng tiền châu Á, đặc biệt là won Hàn Quốc, do Nhật Bản và Hàn Quốc có cơ cấu xuất khẩu tương đồng và cạnh tranh tại nhiều thị trường.
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cũng đưa ra lý giải tương tự trong cuộc trả lời phỏng vấn với Nikkei Asia tuần trước.
'Hiện nhiều đồng tiền châu Á biến động theo đồng yên Nhật Bản. Đồng won Hàn Quốc yếu vì đồng yên yếu', ông Bessent nói.
Trong một bài đăng tuần trước, ông Brad Setser, chuyên gia cấp cao tại Council on Foreign Relations, cảnh báo đồng yên yếu có thể khiến các nền kinh tế châu Á khác cũng tìm cách hạ giá đồng tiền để hàng xuất khẩu không trở nên đắt hơn hàng Nhật Bản.
Nếu xu hướng này lan rộng, hàng hóa châu Á sẽ rẻ hơn khi tính bằng USD, qua đó thúc đẩy xuất khẩu sang Mỹ và làm thâm hụt thương mại của nước này gia tăng. Điều đó sẽ đi ngược mục tiêu đưa hoạt động sản xuất trở lại Mỹ của chính quyền Tổng thống Donald Trump.
BOJ CÓ THỂ PHẢI TĂNG LÃI SUẤT NHANH HƠN
Theo các nhà kinh tế, việc chính phủ can thiệp một lần trên thị trường ngoại hối thường chỉ có tác dụng tạm thời nếu những mất cân đối căn bản của nền kinh tế chưa được giải quyết.
'Việc Mỹ hỗ trợ đồng yên được thực hiện khá khéo léo, nhưng động thái này chỉ giúp thị trường tạm ổn định. Để đồng yên phục hồi bền vững hơn, BOJ phải bắt đầu nâng lãi suất chính sách và tiếp tục quá trình bình thường hóa vốn vẫn còn một chặng đường dài', ông Kenneth Rogoff, giáo sư kinh tế tại Đại học Harvard, nói với Nikkei Asia.
Ngay cả trước khi Mỹ và Nhật Bản can thiệp, nhà đầu tư đã lo ngại BOJ phản ứng quá chậm trước áp lực lạm phát ngày càng tăng.
Tuy nhiên, việc tiếp tục nâng lãi suất không dễ dàng. Chương trình tài khóa mở rộng của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi, trong đó có đợt giảm thuế tiêu dùng gần đây, đã đẩy lợi suất trái phiếu chính phủ lên cao. Điều này gây thêm khó khăn cho quá trình tăng lãi suất của BOJ, dù Washington muốn Tokyo tiếp tục thắt chặt chính sách.
Lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm có lúc chạm mức 2,805% vào thứ Hai (19/8), tiến sát ngưỡng tâm lý 3%. Lợi suất tăng khiến chi phí vay và trả lãi của Chính phủ Nhật Bản cao hơn, trong khi nợ công nước này đã vượt 200% GDP.
Các nhà kinh tế tại ngân hàng Natixis của Pháp, trong đó có bà Alicia Garcia-Herrero, dự báo BOJ sẽ tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, lên 1,25%, vào tháng 9 hoặc tháng 10. Nếu đồng yên không tiếp tục mất giá mạnh, lãi suất có thể tăng lên 1,75% vào tháng 10 năm sau.
ĐỒNG TIỀN MẠNH LÊN CHƯA CHẮC KÌM HÃM XUẤT KHẨU CHÂU Á
Các nhà phân tích tại ngân hàng MUFG Bank dự báo các đồng tiền châu Á sẽ tăng giá nhẹ so với USD trong nửa cuối năm nay. Tuy nhiên, điều này chưa chắc làm chậm đà tăng xuất khẩu của khu vực. Ngay cả khi đồng nội tệ mạnh lên ảnh hưởng đến xuất khẩu, mức độ tác động cũng sẽ khác nhau giữa các nền kinh tế.
Tại nhiều nước châu Á, nhu cầu toàn cầu đối với con chip giá trị cao đã giúp xuất khẩu tăng mạnh và tạo ra thặng dư thương mại lớn. Theo các nhà kinh tế, nhu cầu này khó suy giảm đáng kể chỉ vì biến động tỷ giá.
Hàn Quốc là một ví dụ. Vào đầu tháng 7, đồng won giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, có lúc xuống 1.559 won đổi một USD.
Sau đó, giới chức Hàn Quốc nhiều lần bán USD để hỗ trợ đồng nội tệ. Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK) cũng duy trì chính sách tương đối thắt chặt, giúp chênh lệch lãi suất với Mỹ không nới rộng thêm. Nhờ đó, đồng won nhanh chóng phục hồi về khoảng 1.410 won đổi một USD chỉ trong vòng một tháng.
Đồng won mạnh lên nhưng xuất khẩu của Hàn Quốc vẫn lập kỷ lục nhờ nhu cầu toàn cầu đối với chip bán dẫn và các sản phẩm liên quan đến AI tăng mạnh. Kim ngạch xuất khẩu trong nửa đầu năm của nước này tăng 54%, cao hơn nhiều so với mức tăng 8% cùng kỳ năm trước.
'Đến một lúc nào đó, giới chức có thể cho rằng đồng nội tệ đã tăng giá quá mạnh và sẽ gây tổn hại cho các ngành xuất khẩu không được hưởng lợi từ làn sóng AI. Tuy nhiên, tôi nghĩ còn lâu mới đến thời điểm ấy', ông Cavey nhận định.
Trong khi đó, Ấn Độ, Indonesia và Philippines không hưởng lợi nhiều từ làn sóng đầu tư vào AI. Các doanh nghiệp xuất khẩu tại những nước này có thể chịu áp lực thu hẹp biên lợi nhuận lớn hơn nếu đồng nội tệ tăng giá.
CHÚ Ý ĐỔ DỒN VÀO LỰA CHỌN CỦA BẮC KINH
Trung Quốc đang chịu sức ép ngày càng lớn từ các đối tác thương mại, khi họ cho rằng nhân dân tệ yếu hơn đáng kể so với mức hợp lý và nhờ đó tạo lợi thế về giá cho hàng xuất khẩu Trung Quốc.
Sau khi tính đến ảnh hưởng của lạm phát, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính nhân dân tệ thấp hơn khoảng 16% so với giá trị hợp lý. Ngân hàng Goldman Sachs hồi tháng 5 đưa ra mức trên 20%, còn Oxford Economics ước tính khoảng 25%.
Các quan chức và chuyên gia nước ngoài cho rằng nhân dân tệ yếu làm méo mó cán cân thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (BPOC) Pan Gongsheng nhiều lần khẳng định nước này 'không cần và không có ý định' phá giá nhân dân tệ để giành lợi thế thương mại.
Mỗi ngày, PBOC ấn định tỷ giá giữa nhân dân tệ và USD. Trong năm nay, mức tỷ giá này được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ nhân dân tệ tăng giá. Trên thị trường trong nước, tỷ giá chỉ được phép dao động tối đa 2% theo mỗi chiều so với mức do PBOC công bố.
Một số chuyên gia cho rằng nhân dân tệ tăng giá từ từ sẽ có lợi cho Trung Quốc. Đồng tiền mạnh hơn có thể nâng sức mua của các hộ gia đình và làm chậm dòng vốn chảy ra khỏi nước này.
Tuy nhiên, ít người cho rằng Bắc Kinh sẽ chấp nhận những biến động lớn trên thị trường ngoại hối.
'Tôi cho rằng Chính phủ Trung Quốc không muốn đồng nhân dân tệ tăng giá đáng kể so với mức hiện nay', ông Houze Song, Giám đốc nghiên cứu Trung Quốc tại 22V Research, nhận định.
Theo ông Song, nhu cầu trong nước yếu kéo dài sẽ khiến nhân dân tệ khó tăng giá bền vững.