Vĩ mô Việt Nam

Chính thức trình Quốc hội đề xuất đánh thuế 0,2% với đất bỏ hoang

Vietnamfinance
· 9 giờ trước

Làm rõ căn cứ áp thuế với đất bỏ hoang

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân, được Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn trình Quốc hội sáng 23/10.

Một trong những nội dung đáng chú ý trong tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là đề xuất áp dụng mức thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.

Cụ thể, dự thảo luật bổ sung quy định miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với đất sử dụng vào mục đích giáo dục và đào tạo của các cơ sở giáo dục, trừ những trường hợp thuộc diện loại trừ theo quy định. Đề xuất này nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW, đồng thời bổ sung chính sách miễn thuế đối với người dân tộc thiểu số.

Đáng chú ý, đối với đất phi nông nghiệp bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, Chính phủ đề xuất áp dụng thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức. Việc xác định các trường hợp thuộc diện áp dụng sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thẩm tra dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi, cho biết cơ quan thẩm tra cơ bản tán thành với đề xuất áp dụng thuế suất 0,2%, không áp dụng hạn mức đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.

Theo cơ quan thẩm tra, quy định này cần được xem xét trong mối liên hệ với các quy định của pháp luật về đất đai, nhằm bảo đảm thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW. Tuy nhiên, đối chiếu với Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành và dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), quy định tại khoản 8 Điều 7 dự thảo luật vẫn còn những điểm chưa thống nhất, chưa rõ căn cứ để thực hiện.

Do đó, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ mối quan hệ giữa khoản 8 (bổ sung) với khoản 6 Điều 7 của luật hiện hành. Đồng thời, cần thống nhất thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí và phạm vi đối tượng áp dụng giữa dự thảo luật thuế với các quy định liên quan trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), đặc biệt là những trường hợp loại trừ và đất chậm đưa vào sử dụng.

Một vấn đề khác được cơ quan thẩm tra lưu ý là mối quan hệ giữa mức thuế suất 0,2% và các khoản tiền phải nộp theo pháp luật về đất đai. Việc thiết kế chính sách cần tránh trùng lặp nghĩa vụ tài chính, nhưng đồng thời không làm giảm nghĩa vụ đối với những trường hợp đang áp dụng thuế suất 0,15%.

Ủy ban cũng đề nghị bổ sung đánh giá tác động của chính sách đối với ngân sách nhà nước, người nộp thuế và khả năng tổ chức thực hiện trên thực tế. Đây là những nội dung cần được làm rõ để bảo đảm tính khả thi, minh bạch và thống nhất khi luật được ban hành.

Cân nhắc mức thuế và phạm vi ưu đãi

Bên cạnh các vấn đề về kỹ thuật lập pháp, một số ý kiến trong cơ quan thẩm tra đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình rõ hơn căn cứ đề xuất mức thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.

Theo đó, mức thuế suất được đề xuất tương đương mức áp dụng đối với đất lấn, chiếm theo khoản 7 Điều 7 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Tuy nhiên, tính chất pháp lý và mức độ vi phạm của hai nhóm đất có sự khác biệt, vì vậy cần có cơ sở thuyết minh phù hợp để bảo đảm tính hợp lý của chính sách.

Việc xác định mức thuế không chỉ cần đáp ứng mục tiêu quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn phải bảo đảm tương xứng với tính chất của từng trường hợp, tránh áp dụng thiếu phân biệt giữa các nhóm đối tượng.

Đối với đề xuất miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho đất phục vụ giáo dục và đào tạo, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ căn cứ chính trị, căn cứ thực tiễn, cũng như mức độ ưu đãi và phạm vi áp dụng. Trong đó, cần xem xét cụ thể việc áp dụng đối với các cơ sở giáo dục trong nước và cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài.

Ủy ban Kinh tế và Tài chính đồng thời đề nghị cân nhắc bổ sung các tiêu chí phù hợp, chẳng hạn về địa bàn hoặc số lượng học sinh, nhằm xác định rõ đối tượng được hưởng ưu đãi. Các tiêu chí này cần bảo đảm phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 71-NQ/TW và không trái với các cam kết quốc tế.