Ngân hàng

Cổ phiếu ngân hàng: Định giá thấp nhưng lợi nhuận suy yếu khiến tiềm năng tăng giá khá hạn chế

Vneconomy
· 7 giờ trước
Dù định giá hiện tại thấp hơn trung bình 5 năm nhưng động lực tăng trưởng 2026 suy yếu trước áp lực NIM thu hẹp và trích lập dự phòng khi rủi ro suy giảm chất lượng tài sản gia tăng, khiến tiềm năng ngắn hạn của nhóm Ngân hàng vẫn khá hạn chế.

Ngành Ngân hàng tiếp tục gặp áp lực về tăng trưởng trong quý 1/2026, với lợi nhuận sau thuế tăng chậm lại so với cùng kỳ, đạt +13,7% so với cùng kỳ – thấp nhất trong 8 quý. So với quý 4/2025, lợi nhuận toàn ngành giảm -2,5% so với quý trước đó – đánh dấu mức suy giảm theo quý mạnh nhất từ cuối 2024, theo dữ liệu thống kê của Fiingroup.

Đáng chú ý, cả thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi đều suy giảm trong quý 1/2026, lần lượt -2,5% và -27,2% so với quý trước đó. Diễn biến này phản ánh áp lực ngày càng rõ nét từ NIM thu hẹp do chi phí huy động vốn tăng, tăng trưởng tín dụng chậm lại và nền lợi nhuận cao trước đó.

NIM toàn ngành giảm xuống 2,87% trong quý 1/2026, mức thấp nhất nhiều năm sau nhiều quý đi ngang vùng thấp. Áp lực chủ yếu đến từ chi phí vốn tăng mạnh (+0,40 điểm % so với quý trước) trong khi lợi suất tài sản sinh lãi cải thiện chậm hơn (+0,22 điểm %).

Xu hướng thu hẹp NIM diễn ra rõ nét hơn ở nhiều ngân hàng tư nhân, đặc biệt tại nhóm có tỷ trọng CASA thấp như LPB, ABB hoặc định hướng tăng trưởng tín dụng cao như VPB, HDB hay TCB. Ở nhóm quốc doanh, VCB và CTG duy trì NIM ổn định hơn nhờ lợi thế huy động chi phí thấp và lợi suất cho vay tăng, trong khi NIM thu hẹp ở BID khi lợi suất cho vay và đầu tư cùng giảm mạnh.

Theo nhận định của FiinGroup, áp lực thanh khoản có thể sẽ khiến NIM duy trì ở vùng thấp và do đó, triển vọng tăng trưởng 2026 của ngành sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tăng trưởng tín dụng, kiểm soát chi phí tín dụng và cải thiện thu nhập ngoài lãi, thay vì kỳ vọng vào chu kỳ mở rộng NIM như giai đoạn 2021-2022.

Tăng trưởng tín dụng chững lại, đạt khoảng +3,1% trong 4 tháng đầu năm 2026, thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ 2025 (+4,7%) khi tín dụng cho lĩnh vực bất động sản (chiếm khoảng 1⁄4 tổng dư nợ toàn nền kinh tế) giảm tốc trong bối cảnh lãi suất cho vay tăng cao và định hướng điều tiết dòng vốn tín dụng ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh.

Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt xa tăng trưởng huy động khiến LDR toàn hệ thống tăng vọt lên mức 113,9% vào cuối Q1/2026, buộc các ngân hàng duy trì lãi suất huy động ở mức cao và hạn chế dư địa mở rộng tín dụng trong các quý tới.

Tỷ lệ NPL toàn ngành tăng lên 2,0% tại thời điểm cuối quý 1/2026, từ mức 1,9% cuối năm 2025. Tỷ lệ tạo mới nợ xấu cũng nhích lên 0,21%, cho thấy áp lực hình thành nợ xấu chưa hoàn toàn hạ nhiệt.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, tỷ lệ NPL tăng từ 2,4% lên 2,6% nhưng chi phí tín dụng chưa tăng tương ứng, cho thấy áp lực trích lập dự phòng có thể dồn sang các quý tới, qua đó tạo rủi ro cho chất lượng tăng trưởng lợi nhuận năm 2026.

Dù tỷ lệ NPL hiện vẫn thấp hơn giai đoạn căng thẳng trước đó, nhưng theo Fiingroup rủi ro chất lượng tài sản cần tiếp tục được theo dõi trong bối cảnh lãi suất cho vay còn cao, dòng tiền doanh nghiệp phục hồi chậm và dư nợ liên quan bất động sản vẫn là điểm nhạy cảm.

Với kế hoạch kinh doanh năm 2026, có 26/27 ngân hàng niêm yết (chưa bao gồm BID) cho thấy tăng trưởng lợi nhuận sau thuế của ngành dự kiến giảm tốc, đạt khoảng 16,3% thấp nhất 3 năm gần đây và có phân hóa mạnh.

Cụ thể: Các ngân hàng lớn đặt kế hoạch 2026 khá thận trọng với lợi nhuận sau thuế tăng thấp (VCB, TCB, MBB) hay thậm chí giảm (CTG) trước áp lực NIM thu hẹp và trích lập dự phòng khi rủi ro suy giảm chất lượng tài sản gia tăng. Ngược lại, một số ngân hàng vừa và nhỏ lại kỳ vọng lợi nhuận hồi phục mạnh, nổi bật là NVB, SGB, HDB, OCB, VIB.

Về mặt định giá, FiinGroup cho rằng với ngành dẫn dắt như Ngân hàng, dù định giá hiện tại thấp hơn trung bình 5 năm nhưng động lực tăng trưởng 2026 suy yếu trước áp lực NIM thu hẹp và trích lập dự phòng khi rủi ro suy giảm chất lượng tài sản gia tăng, khiến tiềm năng ngắn hạn vẫn khá hạn chế.

-Thu Minh

]]>