Vĩ mô Việt Nam

Cổ phiếu ngân hàng trong làn sóng tăng lãi suất

Vneconomy
· 9 giờ trước
Mức tăng lãi suất hiện tại hoàn toàn có khả năng ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng và kích hoạt một chu kỳ nợ xấu mới.

Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) vừa có cập nhật triển vọng về ngành ngân hàng trong đó nhấn mạnh: Áp lực thanh khoản đã và đang đẩy mặt bằng lãi suất tăng mạnh từ cuối năm 2025 cho tới nay. Điều này, một mặt, tạo dư địa cải thiện NIM thuận lợi cho ngành ngân hàng trong năm 2026 khi cung tín dụng bị kiềm chế, mặt khác, cũng đang đặt ra thách thức rất lớn về rủi ro nợ xấu.

DƯ ĐỊA NIM CẢI THIỆN NHỜ LÃI SUẤT TĂNG

Về mặt thuận lợi, bối cảnh vĩ mô với mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng ở mức 10% và dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn chế đồng nghĩa với việc động lực tăng trưởng được chuyển trọng tâm sang chính sách tài khóa và thị trường vốn đóng vai trò quan trọng hơn trong việc huy động và phân bổ vốn đầu tư dài hạn. 

Làn sóng đầu tư công mạnh mẽ đang tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định cho hoạt động ngân hàng liên quan đến vấn đề thanh khoản. Theo đó, cho năm 2026, chi đầu tư phát triển dự toán đạt trên 1,1 triệu tỷ đồng, tăng hơn 40% so với cùng kỳ, và bội chi ngân sách dự toán là hơn 600.000 tỷ đồng, tăng gần 30% và tương ứng 4,2% GDP - cao hơn mức 3,6% của năm 2025. 

Như vậy, dòng tiền lớn sẽ được bơm vào nền kinh tế và bồi đắp trực tiếp vào nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng, từ đó tạo áp lực giảm lên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng. Đây là cơ chế truyền dẫn tích cực từ tài khóa sang tiền tệ, giúp bù đắp phần nào cho dư địa chính sách tiền tệ đang bị thu hẹp trong năm nay.

Đối với đầu tư của khu vực tư nhân, vai trò của thị trường vốn, bao gồm thị trường chứng khoán và trái phiếu, trong việc cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn sẽ được nhấn mạnh khi kênh tín dụng ngân hàng được kiểm soát chặt chẽ hơn về tăng trưởng.

Trong ngắn hạn, nhu cầu phát hành trái phiếu doanh nghiệp được dự báo sẽ gia tăng đáng kể, và kéo theo cơ hội tăng trưởng hấp dẫn cho các ngân hàng, hay công ty chứng khoán có năng lực mạnh trong hoạt động thu phí dịch vụ ngân hàng đầu tư, tư vấn MA và thu nhập kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp.

Dài hạn hơn, dư địa phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam rõ ràng là còn rất lớn khi quy mô thị trường hiện nay mới tương đương khoảng 10-11% GDP, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 25% GDP tới năm 2030 theo định hướng của Chính phủ, trong đó giá trị trái phiếu doanh nghiệp phi ngân hàng đang lưu hành/GDP ước tính vẫn còn rất thấp khoảng 4-5%.

Một điểm sáng đáng chú ý trong năm 2026 là dư địa cải thiện NIM của các ngân hàng. Dư địa mở rộng NIM trong ngắn hạn được thúc đẩy bởi quá trình định giá lại lãi suất của các khoản vay, đặc biệt trong giai đoạn 3 tháng đầu năm 2026 khi quy mô các khoản vay được điều chỉnh lãi suất lên mức cao hơn theo biến động của lãi suất cơ sở hay lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3-6 tháng đối với các khoản vay ngắn hạn và kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đối với các khoản vay trung dài hạn. Cao hơn đáng kể so với quy mô nguồn vốn huy động được điều chỉnh lãi suất trong cùng thời gian.

NGUY CƠ NỢ XẤU CŨNG TĂNG TRỞ LẠI

Dù có nhiều yếu tố hỗ trợ, ngành ngân hàng năm 2026 cũng đứng trước không ít thách thức đáng kể.

Cổ phiếu ngân hàng trong làn sóng tăng lãi suất - Ảnh 1

Thứ nhất, dư địa chính sách tiền tệ đã bị thu hẹp sau nhiều năm triển khai các gói hỗ trợ phục hồi kinh tế, trong khi áp lực lạm phát từ bên ngoài do rủi ro thương mại và địa chính trị toàn cầu vẫn còn rất phức tạp.

Điều này được thể hiện rõ qua quan điểm thận trọng của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách, bao gồm việc giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mục tiêu ngay từ đầu năm xuống 15% (so với 16% đầu năm 2025 và mức tăng trưởng  thực tế 19% của năm 2025), kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo từng quý và siết chặt dòng vốn chảy vào lĩnh vực bất động sản (khống chế tăng trưởng tối đa bằng hạn mức tăng trưởng tín dụng chung của ngân hàng).

Thứ hai, tăng trưởng tín dụng cũng chịu sức ép giảm tốc từ hai yếu tố cấu trúc. Một mặt, động lực tăng trưởng truyền thống đến từ bất động sản bị Ngân hàng Nhà nước kiềm chế thông qua các biện pháp kiểm soát dòng vốn nói trên, làm mất đi một đầu kéo quan trọng của tổng dư nợ toàn hệ thống.

Mặt khác, lãi suất cho vay đã tăng khá mạnh trong thời gian gần đây, khiến nhu cầu tín dụng tiêu dùng và đầu tư cá nhân bị trì hoãn - nhiều khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ chọn cách chờ đợi thay vì vay vốn khi chi phí lãi vay còn ở mức cao.

Trong bối cảnh thách thức này, VDSC dự phóng tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngành ngân hàng sẽ giảm tốc trong năm 2026 với dự báo tổng tăng trưởng tín dụng của danh mục các ngân hàng theo dõi giảm xuống 17%, từ mức 20% của năm 2025.

Thứ ba, thách thức trực tiếp và rõ ràng nhất trong ngắn hạn đối với các ngân hàng là bài toán kiểm soát thanh khoản. Mặc dù lãi suất huy động đã tăng mạnh ở nhiều ngân hàng ngày từ những tháng đầu năm (từ 100-300bps ở các kỳ hạn từ 6 tháng đến trung hạn), huy động vốn chỉ tăng 0,8% trong khi tín dụng đã tăng 1,4% trong hai tháng đầu năm 2026, khoảng cách chênh lệch giữa cung-cầu vốn vẫn còn tồn tại.

Để thu hẹp khoảng cách này, lãi suất huy động nhiều khả năng tiếp tục tăng trong ngắn hạn trước khi tỷ lệ LDR được kiểm soát tốt hơn và giúp lãi suất tìm được điểm cân bằng. Không chỉ tái kiểm soát tỷ lệ LDR, các ngân hàng, đặc biệt là các Ngân hàng TMCP, cũng sẽ phải kiểm soát tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SMLR), vốn có xu hướng tăng trong năm 2025.

Các ngân hàng có tỷ lệ SMLR cao (từ 25% trở lên) sẽ có nhu cầu huy động trung dài hạn lớn, kéo theo hệ quả là tỷ lệ CASA giảm và triệt tiêu dư địa cải thiện NIM.

Một thách thức lớn thứ tư của ngành ngân hàng là nguy cơ nợ xấu gia tăng trở lại khi lãi suất có biến động mạnh. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng - thường là mức lãi suất tham chiếu cho các khoản vay trong giai đoạn thả nổi - đã tăng mạnh từ 100 đến 200 điểm cơ bản chỉ trong hơn một quý vừa qua. Tốc độ tăng này không phải là chưa có tiền lệ, nhưng hệ quả của nó thì đã được lịch sử kiểm chứng.

Nhìn lại hai chu kỳ nợ xấu trước đây - giai đoạn 2010–2012 khi lãi suất tăng vọt dẫn đến làn sóng nợ xấu buộc phải thành lập VAMC, và giai đoạn 2022–2023 khi xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ toàn cầu và khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp đẩy nợ xấu toàn ngành lên cao - có thể thấy rằng mức tăng lãi suất hiện tại hoàn toàn có khả năng ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng và kích hoạt một chu kỳ nợ xấu mới.

-Thu Minh

]]>