Kết quả kinh doanh

Đằng sau những công trường bận rộn của các nhà thầu xây dựng

Vietnambiz
· 10 giờ trước

Kinh tế vĩ mô 9 tháng đầu năm 2026 ghi nhận những con số tăng trưởng tích cực. Theo Tổng Cục Thống kê, GDP quý III tăng 9,95%, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%.

Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,5% trong quý III, còn riêng ngành xây dựng tăng 12,22% trong 9 tháng đầu năm.

Đầu tư công tiếp tục là một trong những động lực quan trọng. Theo báo cáo mới nhất từ Bộ Tài chính, tính đến hết tháng 10/2026, toàn quốc đã giải ngân ước đạt 708.567 tỷ đồng, tương đương 74% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

Khối lượng công việc của các nhà thầu được dự báo tiếp tục tăng. Báo cáo ngành Xây dựng và Thép của MBS Research dự báo giá trị hợp đồng chưa thực hiện (backlog) của các nhà thầu niêm yết sẽ tăng lần lượt 15% và 10% trong giai đoạn 2026 - 2027.

Nhưng nhiều việc chưa chắc đã đồng nghĩa với lợi nhuận cao. Giá vật liệu và nhân công tăng, trong khi việc điều chỉnh giá hợp đồng không phải lúc nào cũng theo kịp, đang gây sức ép lên các nhà thầu.

Chưa kể, tiền chi cho thi công thường đi trước tiền thu từ chủ đầu tư. Với những doanh nghiệp có quy mô công việc lớn, chỉ cần tiến độ thanh toán chậm hơn dự kiến, nhu cầu vốn lưu động đã có thể tăng đáng kể. Nếu phải bù đắp bằng vốn vay, chi phí lãi vay lại trở thành một khoản phải tính đến.

Chi phí đầu vào tăng, đơn giá chưa theo kịp

Giá nguyên vật liệu và chi phí nhân công đang là hai khoản gây nhiều sức ép lên giá thành xây dựng.

Theo MBS Research, giá cát xây dựng đã tăng 15% do thiếu hụt nguồn cung.

Báo cáo thị trường của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cũng cho thấy giá thép xây dựng tăng 1.200 - 1.450 đồng/kg, tương đương khoảng 10-13% so với cùng kỳ năm 2025, đưa giá bán lên mức 14.800 - 15.400 đồng/kg.

Với các hợp đồng đã ký, biến động giá vật liệu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà thầu. Mức độ ảnh hưởng còn tùy vào điều khoản hợp đồng. Những hợp đồng cho phép điều chỉnh giá có thể giúp nhà thầu chia sẻ một phần chi phí phát sinh với chủ đầu tư. Ngược lại, hợp đồng đơn giá cố định hoặc có điều kiện điều chỉnh chặt chẽ sẽ khiến doanh nghiệp khó xoay xở hơn khi giá đầu vào tăng.

Chi phí nhân công cũng là vấn đề đáng chú ý, đặc biệt khi đơn giá phục vụ lập dự toán và mức trả thực tế tại một số công trình có sự chênh lệch lớn.

Trả lời phỏng vấn trên Báo Xây dựng, ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Các Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC), cho biết đơn giá nhân công theo quy định hiện ở mức 357.000 đồng/công, trong khi thực tế các nhà thầu đang phải trả từ 700.000 đến 1 triệu đồng, thậm chí 1,2 triệu đồng/công.

Tại Hà Nội, Sở Xây dựng vừa công bố đơn giá nhân công mới vào cuối tháng 10. Tuy nhiên, mức áp dụng cho nhóm 1 và nhóm 2 tại vùng 1 mới ở khoảng 409.000 - 428.000 đồng/ngày. Mức cao nhất là 790.000 đồng/ngày dành cho thợ lặn.

Ở phía doanh nghiệp, thông tin tuyển dụng của VinCons, thành viên Tập đoàn Vingroup, cho thấy mức thu nhập đưa ra dao động 14 - 34 triệu đồng/tháng đối với công nhân và 35 - 50 triệu đồng/tháng đối với tổ đội trưởng. Doanh nghiệp đang có kế hoạch thu hút 200.000 lao động.

Dĩ nhiên, đơn giá nhân công do cơ quan quản lý công bố và thu nhập tuyển dụng của doanh nghiệp không thể so sánh trực tiếp, bởi cách tính, nhóm lao động và các khoản phụ cấp có thể khác nhau. Dù vậy, mức thu nhập VinCons đưa ra cũng cho thấy sức ép tuyển dụng lao động tại những công trình có nhu cầu nhân lực lớn.

Vấn đề với nhà thầu không chỉ là phải trả bao nhiêu cho người lao động, mà còn là chi phí thực tế có được tính đủ trong giá hợp đồng hay không.

Ở các dự án đầu tư công, việc cập nhật định mức, đơn giá hoặc điều chỉnh giá hợp đồng nếu chậm hơn biến động thị trường có thể khiến nhà thầu gặp khó khi cân đối chi phí. Những hợp đồng ít có khả năng điều chỉnh giá chịu sức ép rõ hơn, bởi phần chi phí tăng thêm có thể làm giảm lợi nhuận dự kiến.

Trong khi đó, công trình vẫn cần vật tư, nhân công và máy móc để bảo đảm tiến độ. Nhà thầu vì thế có thể phải bỏ thêm vốn trong quá trình thi công, trước khi được nghiệm thu và thanh toán.

Công nhân trên một công trường xây dựng. Ảnh: Đức Huy.

Khoản phải thu lớn, dòng tiền chịu sức ép

Một đặc điểm của ngành xây dựng là doanh nghiệp phải bỏ tiền ra thi công trước, còn tiền từ chủ đầu tư thường được thanh toán theo các mốc trong hợp đồng.

Vì thế, các khoản phải thu và chi phí sản xuất kinh doanh dở dang có thể chiếm tỷ trọng lớn trên bảng cân đối kế toán. Đây không hẳn là dấu hiệu bất thường, nhưng nếu tiền thu về chậm, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn về dòng tiền dù ghi nhận doanh thu và lợi nhuận.

Báo cáo tài chính quý III/2026 của một số nhà thầu cho thấy khá rõ câu chuyện này, dù tình hình từng doanh nghiệp không giống nhau.

Tại Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex, Mã: VCG), doanh thu quý III đạt 3.296 tỷ đồng, lợi nhuận gộp gần 439 tỷ đồng. Trong khi đó, lợi nhuận ròng thuộc cổ đông công ty mẹ giảm 91% so với cùng kỳ, xuống còn 306 tỷ đồng.

Mức giảm lợi nhuận này không thể chỉ giải thích bằng áp lực chi phí trong quý. Kết quả cùng kỳ trước chịu ảnh hưởng từ các khoản thu nhập bất thường, khiến nền so sánh ở mức cao. Vì vậy, mức giảm lợi nhuận ròng chưa phản ánh đầy đủ diễn biến của riêng hoạt động xây lắp.

Điều đáng quan tâm ở VCG còn nằm ở dòng tiền và quy mô vốn đang sử dụng trong hoạt động kinh doanh.

Tính đến ngày 30/9/2026, doanh nghiệp ghi nhận các khoản phải thu ngắn hạn 5.338 tỷ đồng và hàng tồn kho 5.845 tỷ đồng. Đây là hai khoản mục có quy mô lớn, dù chưa thể kết luận vốn bị ứ đọng hay công nợ khó thu hồi nếu chỉ nhìn vào số dư.

Trong 9 tháng đầu năm, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của Vinaconex âm 1.822 tỷ đồng. Điều đó có nghĩa số tiền chi ra từ hoạt động kinh doanh trong kỳ lớn hơn số tiền thu vào.

Cùng thời điểm, VCG ghi nhận nợ vay ngắn hạn 4.555 tỷ đồng và nợ dài hạn 1.517 tỷ đồng. Riêng quý III, chi phí tài chính gần 130 tỷ đồng, trong đó chi phí lãi vay là 113 tỷ đồng.

Dòng tiền kinh doanh âm không có nghĩa toàn bộ khoản thiếu hụt đều được bù đắp bằng vốn vay. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp vừa có nhu cầu vốn lưu động lớn, vừa phải duy trì các khoản nợ vay, chi phí tài chính là yếu tố không thể bỏ qua trong đánh giá hiệu quả kinh doanh.

Tại CTCP Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình (Mã: HBC), doanh thu thuần quý III tăng hơn 31%, đạt 1.476 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận ròng lại giảm 93%, xuống hơn 12 tỷ đồng. Trong kỳ, chi phí tài chính tăng hơn 21%, lên gần 119 tỷ đồng, trong khi doanh thu tài chính giảm 73%.

Hai diễn biến này đều bất lợi cho lợi nhuận của HBC. Tuy vậy, để giải thích đầy đủ mức giảm 93% lợi nhuận, còn phải xét đến lợi nhuận gộp, chi phí quản lý, các khoản dự phòng cũng như những khoản thu nhập phát sinh trong kỳ trước.

Dù nguyên nhân cụ thể đến từ nhiều khoản mục, mức lợi nhuận hơn 12 tỷ đồng trong bối cảnh chi phí tài chính gần 119 tỷ đồng cho thấy áp lực đáng kể đối với kết quả kinh doanh của Hòa Bình.

Ở chiều ngược lại, CTCP Xây dựng Coteccons (Mã: CTD) ghi nhận doanh thu 11.269 tỷ đồng trong giai đoạn kết thúc tháng 9/2026, tăng 51%, cùng lợi nhuận ròng 305 tỷ đồng.

Theo MBS Research, mảng xây lắp của CTD duy trì được biên lợi nhuận gộp ổn định nhờ ký kết các hợp đồng có điều khoản chia sẻ rủi ro trượt giá nguyên vật liệu với chủ đầu tư.

Đây là một lợi thế trong bối cảnh giá đầu vào tăng, bởi không phải mọi nhà thầu đều có điều kiện thương lượng tương tự. Tuy nhiên, Coteccons cũng phải dành lượng vốn lớn cho hoạt động kinh doanh.

Các khoản phải thu ngắn hạn của CTD lên tới 18.039 tỷ đồng, trong đó phải thu khách hàng là 16.041 tỷ đồng. Hàng tồn kho ở mức 9.168 tỷ đồng.

Quy mô các khoản mục này phần nào phản ánh nhu cầu vốn của một doanh nghiệp có doanh thu lớn và đang triển khai nhiều hợp đồng. Chúng cũng khiến tiến độ thanh toán từ khách hàng trở thành yếu tố đáng theo dõi. Khoản phải thu lớn chưa hẳn là nợ quá hạn, nhưng tiền chưa thu được vẫn chưa thể sử dụng cho những khoản chi tiếp theo.

Trong kỳ, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của CTD âm 775 tỷ đồng. Điểm khác biệt là Coteccons đang nắm giữ lượng tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn khá lớn.

Bảng cân đối kế toán ghi nhận gần 10.000 tỷ đồng, gồm 818 tỷ đồng tiền mặt, 50 tỷ đồng tương đương tiền và 8.809 tỷ đồng đầu tư tài chính ngắn hạn, chủ yếu là tiền gửi.

Số tiền và tiền gửi này là nguồn hỗ trợ đáng kể cho CTD khi cần vốn phục vụ thi công hoặc thanh toán các nghĩa vụ đến hạn. Dù vậy, khả năng sử dụng thực tế còn phụ thuộc vào kỳ hạn và điều kiện của từng khoản đầu tư.

Coteccons cũng có dư nợ vay ngắn hạn 6.436 tỷ đồng. Bởi vậy, không thể nói doanh nghiệp không chịu áp lực lãi vay. Nhưng so với những nhà thầu có lượng tiền dự trữ hạn chế, quy mô tiền và tiền gửi của CTD giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn trong việc cân đối dòng tiền, nhất là khi các khoản thanh toán từ chủ đầu tư chưa về đúng tiến độ.

Không phải nhà thầu nào cũng gặp khó

Bức tranh ngành xây dựng không chỉ có dòng tiền âm và áp lực chi phí. Một số doanh nghiệp vẫn ghi nhận lợi nhuận tăng khá mạnh, thậm chí dòng tiền kinh doanh đã chuyển sang dương.

CTCP Tập đoàn Fecon (Mã: FCN) là một trường hợp đáng chú ý trong quý III/2026. Báo cáo tài chính hợp nhất cho thấy doanh thu thuần đạt 1.858 tỷ đồng, tăng 63%, trong khi lợi nhuận ròng thuộc cổ đông công ty mẹ đạt 90 tỷ đồng, gấp 6 lần cùng kỳ.

Biên lợi nhuận gộp của Fecon cũng cải thiện từ 13,76% lên 17,29%. Như vậy, không chỉ bán được nhiều hơn, doanh nghiệp còn giữ lại được phần lợi nhuận gộp lớn hơn trên mỗi đồng doanh thu.

Bên cạnh hoạt động xây lắp, kết quả của FCN còn được hỗ trợ bởi phần lãi từ các công ty liên doanh, liên kết gia tăng. Đây là nguồn đóng góp vào lợi nhuận kế toán, nhưng không nhất thiết tương ứng với số tiền doanh nghiệp đã nhận về trong cùng kỳ.

Về dòng tiền, Fecon ghi nhận dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh 9 tháng dương 331 tỷ đồng, so với mức âm 382 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.

Sự thay đổi này đáng chú ý trong bối cảnh doanh thu tăng nhanh và chi phí bán hàng, quản lý, tài chính có xu hướng tăng. Dù vậy, để đánh giá dòng tiền dương có duy trì được hay không, vẫn cần xem xét tiền thu từ khách hàng, biến động công nợ và những khoản chi cho các dự án đang triển khai.

Công nhân trên một công trường xây dựng của Vincons. Ảnh: Đức Huy.

CTCP Tập đoàn Đạt Phương (Mã: DPG) cũng có kết quả kinh doanh tích cực với doanh thu quý III đạt 1.854 tỷ đồng, tăng 58%, và lợi nhuận ròng 111 tỷ đồng, tăng 54%.

Dòng tiền kinh doanh 9 tháng đạt dương 194 tỷ đồng, đảo chiều so với mức âm 1.127 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Đây là thay đổi tích cực đối với dòng tiền của doanh nghiệp.

Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ròng không có nghĩa biên lợi nhuận của từng hoạt động đều cải thiện. Với doanh nghiệp có nhiều mảng kinh doanh như DPG, kết quả còn phụ thuộc vào tỷ trọng doanh thu, giá vốn và thời điểm ghi nhận lợi nhuận của từng mảng.

Tương tự, dòng tiền dương có thể đến từ việc thu hồi công nợ, thay đổi hàng tồn kho hoặc các khoản phải trả. Vì thế, sự đảo chiều dòng tiền là điểm sáng, nhưng chưa đủ để kết luận doanh nghiệp sẽ tiếp tục tạo ra lượng tiền tương đương trong những kỳ tới.

Một trường hợp khác là CTCP Đầu tư Hạ tầng Giao thông Đèo Cả (Mã: HHV). Khác với các doanh nghiệp chủ yếu nhận thầu thi công, HHV còn có nguồn thu từ hoạt động khai thác các dự án giao thông theo hình thức BOT.

Trong quý III/2026, HHV đạt doanh thu thuần 1.114 tỷ đồng, tăng 22%, và lợi nhuận ròng 186 tỷ đồng, tăng 45%. Riêng mảng thu phí BOT đóng góp 393 tỷ đồng lợi nhuận gộp, chiếm hơn 83% tổng lợi nhuận gộp hợp nhất của công ty.

Đây là khác biệt quan trọng trong hoạt động của HHV. Doanh thu từ thu phí BOT không chịu tác động trực tiếp từ biến động giá vật liệu xây dựng như doanh thu thi công. Khi công trình đã đi vào khai thác, doanh nghiệp có thể thu phí trong thời gian dài, thay vì chỉ ghi nhận doanh thu theo từng hợp đồng xây lắp.

Tuy nhiên, BOT cũng có mặt khó riêng. Các dự án hạ tầng thường cần vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian thu hồi kéo dài và có thể đi kèm nghĩa vụ trả nợ, lãi vay trong nhiều năm.

Do đó, lợi nhuận gộp cao từ thu phí không đồng nghĩa toàn bộ số tiền này còn lại cho doanh nghiệp sau khi thanh toán chi phí vận hành và các nghĩa vụ tài chính. Khả năng tạo tiền thực tế của một dự án BOT còn phụ thuộc vào lưu lượng xe, doanh thu thu phí, chi phí duy trì công trình và lịch trả nợ.

Ngoài BOT, phần lãi từ công ty liên doanh, liên kết của HHV cũng tăng 73%, đạt 36 tỷ đồng. Nhờ có thêm hoạt động thu phí và các khoản đầu tư khác, kết quả kinh doanh của HHV không hoàn toàn phụ thuộc vào xây lắp. Dù vậy, lợi thế về nguồn thu cần được đặt cạnh chi phí vốn và nghĩa vụ nợ của các dự án hạ tầng, thay vì chỉ nhìn vào lợi nhuận gộp từ BOT.

Các dự án lớn về hạ tầng vẫn đang được triển khai. Ảnh: Đức Huy.

Nhiều việc, nhưng tiền về được bao nhiêu?

Cuối năm 2026, triển vọng công việc của ngành xây dựng vẫn được hỗ trợ bởi đầu tư công và các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia. Những công trường tiếp tục triển khai đồng nghĩa các nhà thầu còn nhiều cơ hội ghi nhận doanh thu.

Nhưng nhìn vào báo cáo tài chính quý III, có thể thấy rõ khối lượng công việc tăng không bảo đảm lợi nhuận hay dòng tiền sẽ tăng cùng tốc độ.

Có doanh nghiệp ghi nhận doanh thu tăng mạnh nhưng lợi nhuận giảm. Có doanh nghiệp cải thiện được biên lợi nhuận gộp và dòng tiền kinh doanh. Cũng có trường hợp lợi nhuận tốt nhưng vẫn phải dành lượng vốn lớn cho các khoản phải thu, hàng tồn kho và chi phí thi công.

Với nhà thầu xây dựng, lợi nhuận trên báo cáo và số tiền thực thu không phải lúc nào cũng đi cùng nhau. Khoản phải thu lớn chưa chắc là nợ xấu, cũng như dòng tiền âm trong một kỳ chưa đủ để kết luận doanh nghiệp kinh doanh kém. Điều cần theo dõi là tiền có về đúng tiến độ hay không, công nợ có kéo dài và doanh nghiệp phải trả bao nhiêu chi phí để duy trì nguồn vốn.

Áp lực càng lớn với những hợp đồng có biên lợi nhuận mỏng, khó điều chỉnh giá khi chi phí đầu vào tăng hoặc phải sử dụng nhiều vốn vay trong thời gian chờ thanh toán.

Vì vậy, bên cạnh giá trị hợp đồng đã ký và tốc độ tăng doanh thu, khả năng kiểm soát chi phí, thu hồi công nợ và trả lãi vay sẽ tiếp tục là những thước đo quan trọng đối với các doanh nghiệp xây dựng.

Công trường có thể rất bận rộn, nhưng sau cùng, điều nhà thầu cần không chỉ là thêm việc, mà còn là làm có lãi và thu được tiền về.