Tin tức thị trường

ĐBQH băn khoăn 'Luật Đầu tư sửa 16 lần trong 5 năm': Bộ trưởng Bộ Tài chính nói gì?

Vietnamfinance
· 8 giờ trước

Ngày 2/11, Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Một vấn đề nhận được nhiều băn khoăn, kiến nghị của các đại biểu là sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành, qua đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc định hình lại phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư trong dài hạn.

Phát biểu tại thảo luận, đại biểu Hoàng Minh Hiếu (đoàn Nghệ An) cho biết, tính từ đầu kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XV đến nay, Luật Đầu tư đã được sửa đổi tới 16 lần (trung bình mỗi năm sửa gần 3 lần), dẫn đến hệ quả pháp luật thiếu ổn định, làm tăng chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.

Đại biểu Hoàng Minh Hiếu.

Đại biểu đặt vấn đề Chính phủ cần cân nhắc kỹ việc có nên tiếp tục duy trì mô hình Luật Đầu tư vừa là đạo luật điều chỉnh quyền tự do kinh doanh, vừa gánh chức năng là một đạo luật cấp phép dự án đầu tư hay không.

Theo đại biểu, việc thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư phải xem xét đủ mọi yếu tố từ địa điểm, đất đai, quy hoạch cho đến môi trường rồi sau đó nhà đầu tư lại phải làm lại các thủ tục tương ứng theo luật chuyên ngành đã làm kéo dài thời gian và gây chồng chéo.

Về lâu dài, đại biểu đề nghị thu hẹp chức năng của Luật Đầu tư, tập trung vào quyền tự do kinh doanh và những lĩnh vực thực sự cần Nhà nước kiểm soát trước, còn các vấn đề khác nên để luật chuyên ngành điều chỉnh theo nguyên tắc "một rủi ro do một cơ quan chịu trách nhiệm chính".

Còn đại biểu Phạm Trọng Nhân (đoàn TP. HCM) thì chỉ ra những điểm bất cập trực tiếp giữa Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành được xem xét cùng kỳ họp.

Lấy ví dụ điển hình từ lĩnh vực phòng chống tác hại thuốc lá và quản lý kinh doanh rượu, đại biểu cho rằng luật chuyên ngành là cánh cửa trước, còn tại một số điều và phụ lục của Luật Đầu tư chính là cánh cửa sau. Cửa trước đóng mà cửa sau còn mở thì hàng vẫn lọt vào.

Giải trình băn khoăn của nhiều đại biểu Quốc hội về việc Luật Đầu tư đã qua 16 lần sửa đổi, bổ sung và lý do tiếp tục sửa đổi trong giai đoạn hiện nay, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, những lần sửa đổi trước đây chủ yếu tập trung vào việc loại bỏ điều kiện thủ tục kinh doanh (đã cắt giảm 62 ngành nghề kinh doanh có điều kiện và giảm tải 40 ngành nghề khác).

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn.

Tuy nhiên, đợt sửa đổi lần này hướng tới một mục tiêu xuyên suốt là không ngừng hoàn thiện môi trường đầu tư, thu hút nguồn lực và khơi thông vốn để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10%/năm.

Theo Bộ trưởng, có 3 lý do cốt lõi đòi hỏi phải sửa đổi Luật Đầu tư ngay thời điểm này là nhu cầu vốn cho giai đoạn mới cực kỳ lớn, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn tới dự kiến gấp 2,21 lần so với giai đoạn 2021 - 2025. Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân phải đạt từ 30 - 40 tỷ USD/năm (gấp 6 – 7 lần giai đoạn trước).

"Việc sửa đổi nhằm thể chế hóa kịp thời các Nghị quyết của Đảng, cụ thể là Nghị quyết 10 về đổi mới thu hút đầu tư FDI, Nghị quyết 21 về sửa đổi Luật Đất đai và Nghị quyết 27 về quy hoạch và tái cấu trúc không gian vùng", Bộ trưởng Bộ Tài chính nói.

'Một lý do đặc biệt quan trọng khác là cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra hết sức gay gắt'. Bộ trưởng nhấn mạnh như vậy và dẫn chứng, Philippines, Malaysia cũng như nhiều quốc gia đang triển khai các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào những lĩnh vực tương đồng với Việt Nam như điện tử, máy tính, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số.

Ngoài khu vực, Ấn Độ trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp khi đặt tham vọng thành trung tâm sản xuất điện thoại di động toàn cầu, sẵn sàng hỗ trợ trực tiếp từ 150 - 180 USD cho mỗi sản phẩm điện thoại sản xuất trong nước.

"Chúng ta cần thu hút FDI thì các quốc gia khác cũng cần. Những lĩnh vực chúng ta ưu đãi thì họ cũng ưu đãi", Bộ trưởng nêu rõ, đồng thời cho rằng Việt Nam phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện chính sách ưu đãi để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút các dự án lớn, nhất là trong những ngành công nghệ cao.