Tin tức thị trường

Di sản số: 'Mỏ vàng' mới cho doanh nghiệp công nghệ

Vietnamfinance
· 9 giờ trước
Di sản số: 'Mỏ vàng' mới cho doanh nghiệp công nghệTiểu Vy-26/09/2026 07:30 (GMT+7)(VNF) - Nghị định 277/2026/NĐ-CP mở ra cơ hội để di sản số trở thành nguồn lực mới cho công nghiệp văn hóa và tạo dư địa kinh doanh cho doanh nghiệp công nghệ. Tuy nhiên, để khai thác “mỏ vàng” này, các vấn đề về quyền sở hữu, phạm vi khai thác, định giá, cấp phép và thương mại hóa dữ liệu cần sớm được làm rõ.Nghị định 277/2026/NĐ-CP vừa ban hành không chỉ hướng tới mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa, mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa mà còn đặt nền tảng pháp lý để dữ liệu văn hóa trở thành một nguồn lực thúc đẩy công nghiệp văn hóa.Theo luật sư Phan Vũ Tuấn, trong quá trình này, di sản số là một cấu phần quan trọng của hạ tầng văn hóa số, đồng thời mở ra không gian kinh doanh mới cho cộng đồng doanh nghiệp công nghệ.Luật sư Phan Vũ Tuấn, Trưởng Văn phòng Luật sư Phan Law VietnamNghị định đưa ra nhiều cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp công nghệ trong nước và nước ngoài đầu tư, hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, trong đó có ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, sử dụng miễn phí hạ tầng số, kết nối với các đơn vị văn hóa, nghệ thuật để hợp tác số hóa và khai thác dữ liệu, hỗ trợ giới thiệu, xúc tiến thương mại trong và ngoài nước cũng như tham gia các chương trình hỗ trợ chuyên ngành.Đây được xem là cơ sở để doanh nghiệp phát triển nhiều mô hình kinh doanh mới, từ cung cấp dịch vụ tư vấn, giải pháp số hóa di sản, xây dựng hạ tầng văn hóa số đến xây dựng và vận hành nền tảng quản lý tài sản số, sàn giao dịch bản quyền.Cùng với đó, các công nghệ như Blockchain, Smart Contract, DRM có thể được ứng dụng để quản lý, xác thực và giao dịch tài sản số. Doanh nghiệp cũng có dư địa phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn, AI chuyên ngành văn hóa, nền tảng cung cấp trải nghiệm di sản số và nhiều loại hình dịch vụ văn hóa số khác.Dữ liệu văn hóa số: Cơ sở hình thành thị trường văn hóa sốTuy nhiên, cơ hội kinh doanh chỉ có thể hình thành khi doanh nghiệp xác định rõ mình được phép khai thác những dữ liệu nào, trong phạm vi nào và quyền đối với các sản phẩm được tạo ra từ dữ liệu đó thuộc về ai.Theo luật sư Phan Vũ Tuấn, đây cũng là một trong những vấn đề cần tiếp tục được làm rõ trong quá trình triển khai chính sách. Dữ liệu văn hóa số cần được phân loại dựa trên yêu cầu quản trị, xử lý và bảo vệ dữ liệu.Theo đó, cần xác định rõ dữ liệu nào hạn chế tiếp cận, dữ liệu nào được mở, dữ liệu nào mở nhưng kèm điều kiện và dữ liệu nào được khai thác, sử dụng có thu phí.Việc khai thác, sử dụng dữ liệu văn hóa số phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin, sở hữu trí tuệ và các quy định liên quan. Đặc biệt, việc khai thác dữ liệu không được làm sai lệch, xuyên tạc hoặc tách dữ liệu khỏi bối cảnh văn hóa gắn với di sản.Một điểm đáng chú ý nằm ở vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Điểm a Khoản 4 Điều 7 Nghị định 277 quy định việc đóng góp dữ liệu vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia không làm thay đổi quyền của chủ sở hữu dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan theo quy định pháp luật.Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được tiếp cận hoặc khai thác dữ liệu không có nghĩa doanh nghiệp mặc nhiên sở hữu dữ liệu đó.Từ góc độ pháp lý, luật sư Phan Vũ Tuấn cho rằng cần phân định ít nhất ba lớp đối tượng gồm dữ liệu về văn hóa số; dữ liệu được tạo ra hoặc xử lý từ dữ liệu văn hóa số; và sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp tạo ra trên cơ sở những dữ liệu đó.Việc xác định rõ chủ thể quyền đối với từng lớp đối tượng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành thị trường văn hóa số. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp có thể đánh giá giá trị tài sản, xác định quyền khai thác và mạnh dạn đầu tư vào các sản phẩm, dịch vụ mới.Dữ liệu văn hóa số cần được phân loại dựa trên yêu cầu quản trị, xử lý và bảo vệ dữ liệuRào cản lớn nhất là tính minh bạch và khả năng dự đoánDù Nghị định 277 tạo ra khung chính sách mới, theo luật sư Phan Vũ Tuấn, cần nhìn nhận đây là văn bản mang tính định hướng, đặt ra các nguyên tắc, chính sách và nền tảng cho việc xây dựng, quản lý, chia sẻ và khai thác dữ liệu văn hóa số.Để những định hướng này thực sự chuyển hóa thành cơ hội đầu tư và kinh doanh, các văn bản hướng dẫn và cơ chế thực thi vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.“Điều doanh nghiệp cần nhất là một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định và có khả năng dự đoán”, luật sư Phan Vũ Tuấn nhấn mạnh trong trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính.Theo đó, doanh nghiệp phải biết dữ liệu nào có thể tiếp cận, được khai thác trong phạm vi nào, điều kiện thương mại hóa ra sao và sản phẩm tạo ra từ dữ liệu sẽ được xác lập quyền như thế nào.Do đó, cần sớm cụ thể hóa các định hướng, chính sách mà Nghị quyết số 28/2026/QH16 và Nghị định 277/2026/NĐ-CP đặt ra, đặc biệt về phân loại và phạm vi tiếp cận dữ liệu, điều kiện khai thác, thương mại hóa, cơ chế cấp phép, xác định quyền đối với dữ liệu và sản phẩm được tạo ra từ dữ liệu.Đây chính là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá rủi ro, tính toán hiệu quả đầu tư và đưa ra quyết định tham gia thị trường văn hóa số.Theo luật sư Phan Vũ Tuấn, nếu chỉ dừng ở số hóa và lưu trữ thì di sản số chưa thể trở thành một thị trường. Muốn thu hút doanh nghiệp đầu tư, pháp luật cần đồng thời giải quyết ba vấn đề lớn.Trước hết là xác lập rõ quyền sở hữu và quyền khai thác. Cần phân biệt dữ liệu gốc do Nhà nước quản lý, phục vụ mục tiêu bảo tồn với các sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển trên cơ sở dữ liệu đó.Tiếp đến là xây dựng cơ chế định giá, cấp phép và giao dịch minh bạch. Khi doanh nghiệp biết một tài sản số có giá trị như thế nào, được khai thác trong bao lâu, phải trả chi phí gì và quyền đối với sản phẩm cuối cùng thuộc về ai, doanh nghiệp mới có cơ sở để tính toán bài toán đầu tư.Cuối cùng là chính sách hỗ trợ đủ hấp dẫn để doanh nghiệp duy trì đầu tư dài hạn. Trong đó có thể bao gồm ưu đãi thuế, hỗ trợ sử dụng hạ tầng số, khai thác dữ liệu, xúc tiến thương mại và xây dựng, vận hành các trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa.Nếu giải quyết được những vấn đề này, di sản số sẽ không chỉ là công cụ phục vụ bảo tồn mà còn có thể trở thành nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp văn hóa, tạo ra sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.Quan trọng hơn, một hành lang pháp lý rõ ràng sẽ giúp doanh nghiệp công nghệ nhìn thấy cơ hội kinh doanh đủ lớn và đủ ổn định để bỏ vốn đầu tư dài hạn vào lĩnh vực này. Khi đó, giá trị của di sản không chỉ nằm ở khả năng được lưu giữ trong môi trường số, mà còn ở khả năng được khai thác có trách nhiệm để tạo ra những giá trị kinh tế mới.