Tin tức thị trường

Định hướng chính sách điều chỉnh tiền lương đối với lao động khu vực doanh nghiệp

Vneconomy
· 9 giờ trước

Bộ Nội vụ cho biết, đối với khu vực doanh nghiệp, Nhà nước chỉ quy định mức lương tối thiểu là mức sàn thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường. Không hạn chế mức tối đa đối với chuyên gia, người có tài năng, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đóng góp nhiều cho doanh nghiệp...

Người lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp hiện áp dụng chế độ tiền lương theo mức lương tối thiểu vùng. Ảnh minh họa: Thu Hằng.
Người lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp hiện áp dụng chế độ tiền lương theo mức lương tối thiểu vùng. Ảnh minh họa: Thu Hằng.

Bộ Nội vụ đã trả lời kiến nghị của cử tri Thành phố Hồ Chí Minh gửi tới sau Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, trong đó có giải đáp nội dung liên quan đến chế độ tiền lương đối với người lao động khu vực doanh nghiệp.

Theo đó, cử tri kiến nghị quan tâm nghiên cứu chính sách điều chỉnh tiền lương phù hợp với biến động giá cả thị trường, bảo đảm đời sống thực tế của người lao động.

BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ CHỦ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG THANG, BẢNG LƯƠNG

Về tiền lương trong khu vực doanh nghiệp, Bộ Nội vụ cho biết hiện nay, hệ thống tiền lương đối với người lao động của Việt Nam đã được thể chế theo nguyên tắc thị trường tại Bộ luật Lao động năm 2019.

Trong đó, tiền lương được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, gắn với năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc; bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc xây dựng, quyết định thang lương, bảng lương, xác định tiền lương và trả lương cho người lao động thỏa đáng.

Đặc biệt, không hạn chế mức tối đa đối với chuyên gia, người có tài năng, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đóng góp nhiều cho doanh nghiệp nhằm giữ chân và thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao.

Theo Bộ Nội vụ, Nhà nước chỉ quy định mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường.

Tiền lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động; khả năng chi trả của doanh nghiệp. Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia.

Căn cứ Quyết định số 001/QĐ-HĐTLQG của Hội đồng Tiền lương quốc gia về việc ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2026, Hội đồng đã tổ chức họp thảo luận, thương lượng về mức lương tối thiểu năm 2027.

Bộ Nội vụ với vai trò là một thành viên của Hội đồng, đã phối hợp với các thành viên của Hội đồng nghiên cứu, rà soát, đánh giá các yếu tố liên quan để khuyến nghị với Chính phủ xem xét điều chỉnh mức lương tối thiểu, đảm bảo hài hòa cả mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với biến động giá cả thị trường.

Theo đó, Hội đồng Tiền lương quốc gia đã có báo cáo gửi Chính phủ khuyến nghị phương án lương tối thiểu năm 2027. Trong đó, mức lương tối thiểu tăng bình quân 7,8%, từ ngày 1/1/2027.

Hiện nay, Bộ Nội vụ đang xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Dự thảo đề xuất quy định các mức lương tối thiểu tháng theo 4 vùng. Trong đó, vùng I là 5.700.000 đồng/tháng, vùng II là 5.080.000 đồng/tháng, vùng III là 4.450.000 đồng/tháng, vùng IV là 4.040.000 đồng/tháng.

Mức lương tối thiểu nêu trên tăng từ 310.000 đồng - 390.000 đồng so với mức lương tối thiểu hiện hành.

Cùng với mức lương tối thiểu tháng, dự thảo quy định các mức lương tối thiểu giờ tăng tương ứng theo 4 vùng: vùng I là 27.400 đồng/giờ, vùng II là 24.400 đồng/giờ, vùng III là 21.400 đồng/giờ, vùng IV là 19.400 đồng/giờ.

QUY ĐỊNH HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG RÕ RÀNG

Như đã đề cập ở trên, chính sách tiền lương đối với khu vực doanh nghiệp hiện được thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

Doanh nghiệp trao đổi với người lao động khi tìm việc. Ảnh: Thu Hằng.
Doanh nghiệp trao đổi với người lao động khi tìm việc. Ảnh: Thu Hằng.

Tại báo cáo sơ kết tình hình thực hiện Nghị định 145, sau 5 năm triển khai, Bộ Nội vụ cho biết từ năm 2021 đến nay, lương tối thiểu trải qua nhiều lần điều chỉnh. Chẳng hạn, năm 2021 tăng khoảng 5,5%, năm 2022 tăng 6%, năm 2023 giữ nguyên mức 2022 (không điều chỉnh), năm 2024 tăng 6%, năm 2025 giữ nguyên mức 2024, và năm 2026 tăng 7,2%.

Các quy định về hình thức trả lương rõ ràng, đầy đủ, tạo hành lang pháp lý để người sử dụng lao động lựa chọn và áp dụng các phương thức trả lương phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh và tổ chức lao động của doanh nghiệp, như trả lương theo thời gian, theo sản phẩm hoặc theo khoán.

Việc quy định cụ thể các hình thức trả lương giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quản trị nhân lực và chi phí lao động. Đồng thời, góp phần bảo đảm tính minh bạch trong việc xác định tiền lương và quyền lợi của người lao động.

Theo số liệu điều tra chuyên đề về sản xuất, kinh doanh, lao động - tiền lương trong doanh nghiệp và đời sống người lao động năm 2025 của Bộ Nội vụ, trong số 2.773 doanh nghiệp, có đến 2.732 doanh nghiệp áp dụng hình thức trả lương tháng, chiếm 98,5%; số doanh nghiệp trả lương theo giờ là 10, chiếm 0,4%; số doanh nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm và trả lương khoán đều là 15, chiếm 0,5%. Chỉ có 1 doanh nghiệp chọn hình thức trả lương khác.

Điều này phản ánh xu hướng duy trì lực lượng lao động lâu dài, và mức độ ổn định tương đối của thị trường lao động.

Các quy định về tiền lương làm thêm giờ đã góp phần bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người lao động. Quy định rõ mức trả lương làm thêm giờ theo từng thời điểm làm thêm.

Chẳng hạn, ngày làm việc bình thường, ngày nghỉ hằng tuần, ngày lễ, Tết tương ứng với mức ít nhất 150%, 200%, 300%. Qua đó, đã giúp người lao động được bù đắp tương xứng với thời gian và cường độ lao động tăng thêm. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước và các bên liên quan giám sát việc thực hiện trong doanh nghiệp.

Các quy định về tiền lương khi làm việc vào ban đêm đã góp phần bảo đảm chế độ đãi ngộ phù hợp đối với người lao động làm việc trong điều kiện đặc thù về thời gian.

Việc quy định mức trả lương cao hơn so với giờ làm việc bình thường đã thể hiện sự quan tâm của pháp luật lao động đối với sức khỏe và điều kiện làm việc của người lao động, cũng như khuyến khích doanh nghiệp bố trí lao động hợp lý và tuân thủ các quy định liên quan.

Mặc dù vậy, một số vướng mắc đã xuất hiện sau thời gian thực hiện. Bộ Nội vụ dẫn chứng, trên thực tế, tiền lương mà doanh nghiệp chi trả cho người lao động thường bao gồm nhiều khoản khác nhau, như tiền lương theo công việc hoặc chức danh, các khoản phụ cấp và các khoản bổ sung khác. Đồng thời, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và tiền lương thực tế chi trả trong doanh nghiệp có sự khác biệt nhất định.

Vì vậy, một số doanh nghiệp còn lúng túng trong việc xác định, hoặc thậm chí cố tình xác định tiền lương thực trả ở mức thấp hơn so với thực tế để làm căn cứ tính tiền lương làm thêm giờ.

Việc theo dõi, tổng hợp thời gian làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm tại một số doanh nghiệp còn chưa chặt chẽ. Việc thực hiện niêm yết, công khai cách tính tiền lương làm thêm giờ còn hạn chế…

Từ kết quả đánh giá tình hình thực hiện Nghị định số 145,những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn nêu trên, Bộ Nội vụ đang đề xuất xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 145. Từ đó, nhằm giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện quy định pháp luật. Qua đó, tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các quy định pháp luật về lao động.