Có thêm dư địa cho vay
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019 về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Cơ quan này đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%.
Đây là một trong những tỷ lệ quan trọng phản ánh mức độ chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và tài sản sinh lời của ngân hàng. Khi trần tỷ lệ càng cao đồng nghĩa với việc ngân hàng sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay có thời hạn dài, qua đó gia tăng khả năng mở rộng tín dụng trung và dài hạn.
Trước đó, trần tỷ lệ này từng ở mức 60% năm 2016, sau đó giảm về 50%, 45%, 40%, 37%, 34% và còn 30% từ ngày 1/10/2023. Như vậy, nếu được nâng lại lên 40%, khoảng đệm kỹ thuật tăng thêm 10 điểm phần trăm, tương đương mức nới 33,3% so với trần hiện hành.
Ở phía thanh khoản, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước đang tiến gần ngưỡng tối đa. Theo NHNN, tại ngày 31/3, LDR của VietinBank, BIDV, Vietcombank và Agribank lần lượt là 83,48%, 82,94%, 84,54% và 83,28%, gần ngưỡng tối đa 85% nhưng chưa ngân hàng nào vượt mốc này.
Vietcombank có quy mô tín dụng lớn, nguồn vốn rộng và chất lượng tài sản ổn định. Cuối quý I, dư nợ cho vay khách hàng đạt 1.754.926 tỷ đồng, tăng 4,86% so với quý trước và 19,68% so với cùng kỳ. Riêng trong quý, dư nợ tăng thêm 81.401 tỷ đồng. Cho vay trung dài hạn đạt 742.430 tỷ đồng, chiếm 42,31% tổng dư nợ.
Quy mô tuyệt đối giúp Vietcombank có khả năng chuyển thay đổi về room tín dụng hoặc vốn trung dài hạn thành tăng trưởng tài sản sinh lời. Tiền gửi khách hàng đạt 1.682.032 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 234.031 tỷ đồng, tương đương 13,34% dư nợ cho vay. Theo NHNN, LDR của Vietcombank tại ngày 31/3 ở mức 84,54%, dưới ngưỡng tối đa 85%.
Techcombank nổi bật ở cấu trúc tín dụng trung dài hạn. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 796.864 tỷ đồng, tăng 3,81% so với quý trước và 20,07% so với cùng kỳ. Cho vay trung dài hạn đạt 497.070 tỷ đồng, chiếm 62,38% tổng dư nợ, cao hơn đáng kể so với Vietcombank. Vốn chủ sở hữu đạt 186.683 tỷ đồng, tương đương 23,43% dư nợ cho vay.
Tại ngày 31/3, Techcombank công bố tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ở mức 26,9%, thấp hơn trần 30%; LDR riêng lẻ theo báo cáo quản lý đạt 80,5%. Với tỷ trọng tín dụng trung dài hạn cao và nền vốn lớn, ngân hàng này có độ nhạy cao hơn với thay đổi về trần vốn trung dài hạn.
Mức độ sát trần 30% có sự phân hóa giữa các ngân hàng công bố trực tiếp tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn. VPBank ở mức 28,3%, Techcombank 26,9%, MSB 25,8%, VietinBank 25,7%, VIB 25%, ACB khoảng 24,9% và HDBank khoảng 22,9%. Nhóm có tỷ lệ cao hơn nhạy hơn với thay đổi trần, trong khi nhóm có tỷ lệ thấp hơn còn thêm dư địa gắn tín dụng với mở rộng nguồn vốn.
MB, HDBank, SHB và VPBank thể hiện các trạng thái khác nhau khi đặt tăng trưởng tín dụng cạnh nguồn vốn và chất lượng tài sản. MB có quy mô tín dụng lớn và khả năng tạo lợi nhuận tốt. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 1.120.563 tỷ đồng, tăng 3,37% so với quý trước và 40,5% so với cùng kỳ. Cho vay doanh nghiệp và tổ chức kinh tế đạt 644.774 tỷ đồng, tương đương 57,54% tổng dư nợ; nhóm ngành có tính dự án chiếm khoảng 66,52%.
VPBank có tốc độ tăng trưởng cao và biên lãi rộng. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 1.040.917 tỷ đồng, tăng 10,28% so với quý trước và 42,6% so với cùng kỳ. Thu nhập lãi ròng (NII) đạt 16.961 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 7.921 tỷ đồng, biên lãi khoảng 5,37%. Ngân hàng công bố tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn 28,3% và LDR 82,7% tại cuối quý I/2026, vẫn trong giới hạn quản lý… Việc nâng tỷ lệ lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm không gian để cung ứng tín dụng trung và dài hạn.
Kiểm soát rủi ro khi nới trần
NHNN đang đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ mức 30% hiện tại lên 40%. Động thái này được kỳ vọng sẽ khơi thông dòng vốn, tiếp sức cho chu kỳ đầu tư mới của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030. Tuy nhiên, song song với việc mở thêm dư địa tín dụng, bài toán kiểm soát rủi ro và đảm bảo an toàn hệ thống vẫn được đặt lên hàng đầu.
Có ý kiến cho rằng, việc nâng trần trở lại 40% được xem là "bước lùi" về quản trị rủi ro hệ thống, nhất là trong bối cảnh ngành ngân hàng đang mất cân đối kỳ hạn kéo dài (huy động chủ yếu vốn ngắn hạn trong khi cho vay chủ yếu trung, dài hạn).
Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng, đây là "bước lùi" cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, giảm bớt áp lực huy động vốn trung, dài hạn của các tổ chức tín dụng thời gian tới.
Cùng với thay đổi trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, NHNN cũng đề xuất điều chỉnh một số quy định liên quan đến LDR.
Theo dự thảo sửa đổi quy định về tổng tiền gửi dùng để tính LDR theo hướng tiếp tục loại trừ tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, đồng thời cho phép chỉ loại trừ 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước hoặc một tỷ lệ khác do NHNN quyết định trong từng thời kỳ.
Điều này đồng nghĩa với việc 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ được tính vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR của các ngân hàng, từ đó giảm bớt sức ép thanh khoản cho các nhà băng.
Theo bản thuyết minh của cơ quan soạn thảo, việc sửa đổi được thực hiện nhằm triển khai các chỉ đạo mới của Chính phủ, NHNN về hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số ở giai đoạn tới.
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi cũng cho rằng, đây không phải là một sự nới lỏng đơn thuần. Thực chất, đây là bước điều chỉnh mang tính linh hoạt, tạo thêm dư địa tài chính cho nền kinh tế trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn đang gia tăng mạnh mẽ.
Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn cũng làm gia tăng rủi ro kỳ hạn. Nếu xuất hiện biến động lớn của thị trường hoặc thay đổi mạnh trong hành vi gửi tiền, áp lực thanh khoản đối với một số tổ chức tín dụng có thể gia tăng. Ngoài ra, chi phí huy động vốn ngắn hạn thường biến động nhanh hơn lãi suất của các khoản cho vay dài hạn, qua đó làm phát sinh rủi ro lãi suất và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Theo ông Huy, trước hết, cần tiếp tục tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực vốn tự có và chủ động phát hành trái phiếu có kỳ hạn dài nhằm cải thiện cơ cấu nguồn vốn, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn và tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc của thị trường.
Giải pháp căn cơ vẫn là phát triển đồng bộ thị trường vốn, bao gồm thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các quỹ đầu tư dài hạn và các định chế tài chính phi ngân hàng.
Giới phân tích đánh giá, nếu đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40% được thông qua, những ngân hàng có tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn ở mức cao, đặc biệt là nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và có tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh, sẽ là đối tượng hưởng lợi rõ nét nhất.
Trong khi đó, các ngân hàng đã chủ động duy trì tỉ lệ thấp trong vài năm gần đây như một số ngân hàng lớn sẽ không có tác động đáng kể. Chuyên gia SSI Research nhấn mạnh các giải pháp trên chủ yếu mang tính hỗ trợ ngắn hạn. Việc nâng trần tỷ lệ có thể giúp giảm áp lực về mặt quy định, nhưng không giải quyết được thách thức cốt lõi là sự chênh lệch về kỳ hạn nguồn vốn huy động và cho vay.
