Tin tức thị trường

Doanh nghiệp ngành thép ứng phó chi phí carbon và xu hướng xanh

Stockbiz
· 3 giờ trước

Cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới của EU chưa gây áp lực quá lớn về chi phí lên doanh nghiệp ngành thép Việt Nam, song việc tái cấu trúc để xanh hơn đang trở thành tất yếu.

CBAM (Carbon Border Adjustment Mechanism) là cơ chế EU áp chi phí carbon lên hàng nhập khẩu dựa trên lượng phát thải CO₂ “embedded” trong quá trình sản xuất. Theo đó, nhà xuất khẩu vào EU phải khai báo phát thải và mua chứng chỉ CBAM tương ứng với mức giá carbon trong hệ thống ETS của EU. Có thể hiểu về bản chất, CBAM hoạt động như một dạng “thuế carbon tại biên giới”, nhằm đảm bảo hàng nhập khẩu chịu chi phí carbon tương đương với hàng sản xuất nội khối.

Ngành thép với cơ chế chi phí carbon

Ủy ban Châu Âu đã công bố mức giá đầu tiên của chứng chỉ CBAM cho quý I năm 2026 vào ngày 07/04/2026, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình triển khai cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Theo đó, mức giá được áp dụng trong quý I/2026 được xác định là 75,36 euro/chứng chỉ.

Chi phí carbon gây áp lực lên biên lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc 6 ngành xuất khẩu sang EU, trong đó có ngành thép; nhưng đồng thời thúc đẩy quá trình phân hóa, đầu tư giảm phát thải. (Ảnh minh họa)

Giá chứng chỉ CBAM được thiết kế nhằm đảm bảo chi phí carbon giữa nhà sản xuất trong EU và hàng nhập khẩu là nhất quán. Lộ trình tính và công bố giá từ năm 2026, thực hiện công bố 4 mức giá theo quý (mỗi quý một giá). Từ năm 2027 trở đi chuyển sang công bố giá hàng tuần, phản ánh biến động thị trường sát hơn. Giá CBAM theo quý năm 2026 sẽ áp dụng cho chứng chỉ liên quan đến lượng phát thải của hàng hóa nhập khẩu trong chính quý đó. Và từ tháng 2/2027, toàn bộ chứng chỉ CBAM sẽ được mua qua nền tảng trung tâm chung, theo quy định của EU.

Với quy định này, các chuyên gia Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, tác động chi phí tuân thủ CBAM đối với ngành thép của Việt Nam (đặc biệt là ngành tôn mạ), trong ngắn hạn là không đáng kể. Nguyên do từ cơ chế hạn ngạch hiện tại của EU đối với sản phẩm thép nhập khẩu. Các biện pháp bảo vệ hiện tại (hạn ngạch + thuế 25%) được áp dụng từ năm 2024 sẽ hết hiệu lực vào ngày 30/06/2026 theo quy định của WTO. Với mục tiêu phục hồi công suất (các nhà sản xuất thép EU hiện chỉ hoạt động ở mức 65% hiệu suất do áp lực từ nhập khẩu tăng và mức thuế 50% từ Mỹ), Liên minh châu Âu dự kiến sẽ cắt giảm 47% lượng thép nhập khẩu miễn thuế xuống 18,3 triệu tấn, đồng thời áp thuế 50% với phần vượt hạn ngạch.

Ngoài ra, quy định mới sẽ kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc thép (nơi nấu chảy và đúc) để tránh việc né thuế thông qua trung gian, đồng thời xem xét việc chuyển tiếp hạn ngạch (sử dụng hạn ngạch thừa trong một quý cho quý sau).

Do đó, theo VDSC, ảnh hưởng của cơ chế CBAM đến triển vọng khôi phục lại kênh xuất khẩu thép của Việt Nam sang EU là vấn đề trong trung và dài hạn.

Tái cấu trúc: Chuyển đổi xanh và ưu tiên nội địa

Dù vậy, từ xu hướng chuyển đổi xanh của chuỗi giá trị sản xuất trên toàn thế giới, việc thay đổi và thích nghi với CBAM (và những cơ chế tương tự trong tương lai) là điều tất yếu nếu các doanh nghiệp thép của Việt Nam muốn tham gia trở lại trong dòng chảy thương mại toàn cầu.

“Chúng tôi cho rằng một số điều quan trọng cần phải thực hiện trước mắt bao gồm: Nâng cấp, chuyển đổi hệ thống sản xuất (CBAM yêu cầu chuẩn ISO/IEC 17025) nhằm giảm phát thải và giảm gánh nặng chi phí СВАМ. Chuẩn hóa hệ thống đo lường, ưu tiên báo cáo bằng dữ liệu thực tế (thay cho giá trị mặc định) nhằm tránh bị áp hệ số tăng thêm (Mark-up lũy tiến lên 30% vào 2028) và tối ưu hóa mức Phân bổ Miễn phí (FAA). Lập kế hoạch theo dõi nhằm tránh các cơ chế phạt thiếu hụt dữ liệu của EU (đạt trên 80% điểm dữ liệu cần thiết là bắt buộc để tránh bị áp dụng các công thức mang tính chất phạt nặng từ EU đối với phần dữ liệu thiếu hụt), chuyên gia VDSC nhận định.

Doanh nghiệp ngành thép tái cấu trúc, tập trung thị trường nội địa với kỳ vọng các động lực từ đầu tư công và bất động sản. (Ảnh minh họa)

Theo ước tính, nếu áp dụng giá trị phát thải mặc định hiện tại của EU, mức chi phí tuân thủ CBAM mà các nhà nhập khẩu thép Việt Nam tại EU phải nộp trong quý I/2026 sẽ dao động từ 87 đến 94 euro trên một tấn thép, VDSC cho biết thêm.

Thông thường, giá thép Việt Nam xuất khẩu sang EU (giá CFR) thấp hơn khoảng 15-20% so với giá nội địa (giá xuất xưởng) của các nhà máy tại EU. Với việc áp dụng chi phí CBAM, VDSC cũng ước tính mức chênh lệch này có thể giảm xuống biên độ 5-10%, chưa tính đến một số yếu tố như: Các nhà sản xuất tại EU có thể tăng thêm giá bán (chuyển toàn bộ chi phí chứng chỉ EU ETS sang người mua khi hàng nhập khẩu đã phải chịu chi phí tương tự); và Biến động chi phí vận chuyển, lưu kho...

Ghi nhận trước 2025, các doanh nghiệp đầu ngành thép, tôn mạ Việt Nam có doanh thu từ thị trường xuất khẩu, đặc biệt Mỹ và châu Âu khá lớn. Trong đó, HRC Hòa Phát có lợi thế lớn được ghi nhận xuất khẩu vào châu Âu với thuế suất 0%. Tuy nhiên, với lực cầu thấp của thị trường nhập khẩu này trong 2025, cùng việc chuẩn bị để tránh chịu chi phí "thuế" CBAM, HPG đã đã có chiến lược ưu tiên đẩy mạnh "bỏ ngoài giữ trong", tập trung cho nội địa nhằm giảm áp lực chi phí thuế. Doanh xuất khẩu vào EU từ 2025 cũng giảm mạnh.

Tương tự, HSG với xuất khẩu tôn mạ vào Mỹ có doanh thu lớn, nhưng chịu rủi ro điều tra chống bán phá giá, đã tái cấu trúc giảm sản lượng xuất khẩu sang Mỹ trong 2025. Qua đó, cũng triệt tiêu tác động của chính sách thuế quan theo công bố dành cho thép và tôn mạ ở mức cao.

Đồng thời, HSG chịu ảnh hưởng từ hạn ngạch ở thị trường châu Âu có hiệu lực từ tháng 4/2025, nên sản lượng xuất khẩu sang thị trường Châu Âu của HSG đã giảm xuống khoảng 10 -15 nghìn tấn/tháng (trước đây là 25 - 30 nghìn tấn/tháng, chiếm khoảng 25 – 35% tổng kim ngạch xuất khẩu). Đây lại là "may mắn" của doanh nghiệp khi trở lại ưu tiên và dành tổng lực tập trung cho thị trường nội địa; qua đó, có thể giảm tác động chi phí "thuế carbon" ngay từ đầu năm nay ở thị trường châu Âu.

Tác động chi phí carbon theo từng nhóm ngành

Đánh giá về thị trường tín chỉ carbon nói chung, ông Nguyễn Minh Hạnh, Giám đốc Trung tâm Phân tích SHS cho rằng, việc các nước châu Âu đã áp dụng cơ chế CBAM có ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu từ Việt Nam qua châu Âu. Ngoài ra, từ tháng 6/2025, việc Việt Nam mở thị trường carbon thí điểm với 03 ngành Sắt, Thép, Xi Măng cũng sẽ có những ảnh hưởng trực tiếp có cả tiêu cực lẫn tích cực lên các doanh nghiệp này tùy thuộc vào đánh giá phát thải môi trường của từng doanh nghiệp.

Ông Hạnh phân tích chi tiết: Cơ chế CBAM áp dụng thuế carbon đối với hàng hóa nhập khẩu, dựa trên lượng khí nhà kính phát thải trong quá trình sản xuất. Theo quy định tại Phụ lục I, 6 nhóm ngành chịu tác động trực tiếp gồm: sắt thép, xi măng, phân bón, nhôm, điện và hydro. Doanh nghiệp xuất khẩu vào EU phải đáp ứng chứng chỉ CBAM; nếu vượt định mức phát thải, buộc mua "hạn ngạch phát thải" để bù đắp.

Về tác động vĩ mô đến nền kinh tế Việt Nam, tính ở năm 2019 (trước đại dịch), 6 ngành trên chỉ đóng góp 3,2% GDP và 12,6% sản lượng xuất khẩu, trong đó thị phần EU chiếm tỷ trọng thấp: gang thép (8%), nhôm (2%), xi măng (1%), phân bón và hydro không đáng kể. Dự báo của các chuyên gia cho thấy CBAM có thể làm GDP Việt Nam giảm 100 triệu USD (2030) và 200 triệu USD (2035).

Trong khi đó, về phân tích tác động theo ngành hàng: Ngành thép xuất khẩu sang EU chiếm 5% - 10% tổng kim ngạch. Khi CBAM áp dụng, sản lượng và xuất khẩu dự kiến giảm 0,8% - 3,7% (2030) và 0,9% - 3,9% (2035), chuyên gia SHS nhận định. Nếu áp dụng giá carbon nội địa, mức giảm tăng lên 5,1% - 7,5%, song tạo nguồn thu 1,2 tỷ USD (2030) và 1,9 tỷ USD (2035).

Đối với nhôm, tỷ trọng xuất khẩu sang EU 3% - 12%. Sản lượng và xuất khẩu dự kiến giảm 0,4% - 4,4% (2035).

Ngoài ra, việc áp giá carbon trong nước khiến mức giảm tăng lên 9,3% - 13,7%, đồng thời thu về 0,6 tỷ USD (2030) và 0,9 tỷ USD (2035).

Còn ngành Xi măng & Phân bón chịu tác động trực tiếp hạn chế do tỷ trọng xuất khẩu thấp. Ông Hạnh cũng cho hay, chi phí tuân thủ CBAM làm giảm lợi thế cạnh tranh. Việc áp giá carbon nội địa sẽ mở rộng tác động lên toàn ngành phân bón.

Về dài hạn, chuyên gia cho rằng từ thị trường thí điểm carbon - phát triển hệ thống trao đổi hạn ngạch (ETS), với khoảng 150 doanh nghiệp sắt thép, xi măng, nhiệt điện tham gia, toàn bộ hạn ngạch phát thải trong giai đoạn này sẽ được phân bổ miễn phí, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp làm quen và thích ứng.

"Việc triển khai ETS có thể giúp giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các cam kết giảm phát thải theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.

Ngành nhiệt điện là lĩnh vực được hưởng lợi nhiều nhất về chi phí tuân thủ, tiếp theo là ngành sắt thép. Trong khi đó, ngành xi măng với chi phí đầu tư giảm phát thải thấp hơn có thể tận dụng việc cung ứng hạn ngạch ra thị trường như một lợi thế cạnh tranh", ông Hạnh nêu bật mức độ phân hóa và cơ hội của doanh nghiệp trong tuân thủ "thuế" carbon, cùng hướng đến thực hiện mục tiêu xanh.

Link gốc