Doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu: 'Chưa chắc giúp bình ổn giá'

Dự thảo nghị định mới đề xuất chuyển giá xăng dầu sang cơ chế thị trường, trong đó doanh nghiệp tự quyết định giá bán thay vì nhà nước quy định giá bán lẻ tối đa theo từng kỳ điều hành. Theo đó, mỗi cây xăng có thể áp dụng một mức giá khác nhau, thậm chí giá có thể thay đổi ngay trong ngày.
Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, - Giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, cần xác định rõ mục tiêu của việc chuyển sang cơ chế thị trường, đồng thời thiết kế một 'vùng đệm' đủ lớn để thị trường có thể vận hành nhưng vẫn kiểm soát được những cú sốc năng lượng bất thường.

Tự quyết giá xăng dầu chưa chắc giúp bình ổn giá
- Dự thảo quy định mới đề xuất chuyển giá xăng dầu sang cơ chế thị trường, theo hướng doanh nghiệp tự quyết định giá bán. Theo ông, thay đổi này có thực sự tạo ra môi trường cạnh tranh hơn hay chỉ thay đổi cách thức điều hành giá?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, trước hết phải xác định rất rõ mục tiêu của việc chuyển sang cơ chế thị trường là gì. Nếu mục tiêu là để thị trường cạnh tranh hơn, năng động hơn thì đây là một hướng có thể nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu mục tiêu là bình ổn giá xăng dầu thì cơ chế này chưa chắc đã đạt được mục tiêu đó.
Xăng dầu là mặt hàng có giá biến động rất nhanh và chịu tác động trực tiếp từ thị trường thế giới. Có những thời điểm giá dầu tăng lên rất cao, chẳng hạn có lúc lên tới 140 USD một thùng, nhưng cũng có giai đoạn giảm mạnh xuống khoảng 40 USD một thùng. Nếu hoàn toàn thả theo thị trường thì giá trong nước cũng sẽ chịu tác động tương ứng.
Trong khi đó, xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, có tính chiến lược và người tiêu dùng gần như không có nhiều lựa chọn thay thế trong ngắn hạn. Khi giá dầu thế giới tăng mạnh, giá xăng dầu trong nước có thể tăng rất nhanh và chi phí cuối cùng sẽ được chuyển sang người tiêu dùng.
Vì vậy, nếu nhìn từ góc độ bình ổn giá và khả năng ứng phó với các cú sốc năng lượng, tôi cho rằng Nhà nước vẫn cần giữ một vai trò nhất định. Vấn đề là vai trò đó có thể chuyển từ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp và dựa nhiều hơn vào các công cụ thị trường.
- Nếu 'mỗi cây xăng một giá', thậm chí giá có thể thay đổi nhiều lần trong ngày, điều này sẽ tác động thế nào đến người tiêu dùng và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Về nguyên tắc, nếu thực sự có cạnh tranh thì việc các cây xăng có mức giá khác nhau là bình thường. Doanh nghiệp được quyền quyết định giá bán của mình, người tiêu dùng có quyền lựa chọn và doanh nghiệp muốn giữ khách thì phải tính toán chi phí, chất lượng dịch vụ và mức giá phù hợp.
Nhưng muốn có cạnh tranh thực sự thì phải có đủ chủ thể tham gia thị trường. Không thể gọi là cạnh tranh sòng phẳng nếu thị trường chỉ tập trung vào một số ít doanh nghiệp lớn hoặc có sự liên kết giữa các doanh nghiệp.
Theo tôi, phải mở cửa thị trường xăng dầu ở mức hợp lý, tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế tham gia, kể cả khu vực tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài ở những khâu phù hợp. Khi có nhiều người mua, nhiều người bán và các chủ thể có khả năng cạnh tranh với nhau thì cơ chế giá thị trường mới phát huy tác dụng.
Tuy nhiên, tự do về giá phải đi cùng với minh bạch. Doanh nghiệp có thể tự quyết giá nhưng phải công khai thông tin về giá nhập, giá bán, chi phí và lượng hàng tồn kho theo những tiêu chuẩn nhất định. Khi thông tin đầy đủ, người tiêu dùng mới có cơ sở so sánh và lựa chọn.
- Khi bỏ giá bán lẻ tối đa, cơ chế nào sẽ ngăn doanh nghiệp lợi dụng vị thế thị trường để đẩy giá lên cao, đặc biệt ở những khu vực ít cạnh tranh?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Vấn đề này trước hết thuộc về pháp luật cạnh tranh. Luật đã có quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay thao túng thị trường. Nếu doanh nghiệp vi phạm thì phải xử lý theo pháp luật.
Nhưng ngoài pháp luật cạnh tranh, theo tôi công cụ quan trọng nhất là minh bạch hóa dữ liệu.
Chẳng hạn, doanh nghiệp mua xăng dầu đầu vào với giá bao nhiêu, nhập từ đâu, bán ra với giá nào, mức chênh lệch là bao nhiêu, tất cả cần được thể hiện rõ qua hóa đơn điện tử và hệ thống dữ liệu. Khi đầu vào và đầu ra đều được số hóa, cơ quan quản lý có thể hậu kiểm dựa trên dữ liệu thay vì phải can thiệp trực tiếp vào từng mức giá.
Nếu doanh nghiệp mua vào ở một mức giá mà bán ra cao bất thường thì cơ quan quản lý hoàn toàn có thể kiểm tra. Đồng thời, việc công khai thông tin cũng giúp người tiêu dùng và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng giám sát thị trường.
Tôi cho rằng đây chính là cách quản lý phù hợp hơn trong cơ chế thị trường: quản lý bằng dữ liệu, bằng số hóa, bằng hóa đơn điện tử và bằng hậu kiểm, thay vì Nhà nước phải quyết định giá bán cụ thể.

- Dự thảo vẫn quy định Nhà nước kiểm soát một số yếu tố trong công thức giá và có thể can thiệp khi giá biến động mạnh. Theo ông, ranh giới giữa cơ chế thị trường và điều tiết của Nhà nước nên được thiết kế thế nào?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng không nên hiểu chuyển sang cơ chế thị trường đồng nghĩa với việc Nhà nước hoàn toàn rút khỏi thị trường.
Xăng dầu khác với những hàng hóa thông thường. Đây là mặt hàng chiến lược, liên quan trực tiếp đến sản xuất, giao thông, quốc phòng, an ninh năng lượng và đời sống người dân. Vì vậy, Nhà nước cần có một 'vùng đệm' để xử lý những tình huống cực đoan.
Một trong những công cụ quan trọng là dự trữ. Doanh nghiệp phải có một lượng dự trữ bắt buộc đủ để ứng phó với biến động nguồn cung. Nhà nước cũng cần có lượng dự trữ của mình để sử dụng khi thị trường xảy ra cú sốc lớn vượt quá khả năng chống đỡ của doanh nghiệp.
Tôi cho rằng có thể tham khảo cách tiếp cận của ngành ngân hàng. Ngân hàng có thể chủ động về hoạt động kinh doanh nhưng vẫn phải tuân thủ quy định về dự trữ bắt buộc. Với xăng dầu cũng có thể thiết kế một cơ chế tương tự: doanh nghiệp được chủ động về giá nhưng phải đáp ứng yêu cầu dự trữ tối thiểu.
Quan trọng hơn, phải quy định rõ khi nào Nhà nước được can thiệp và can thiệp bằng công cụ nào. Không nên đợi đến khi thị trường xảy ra khủng hoảng mới tìm cách xử lý.
Việt Nam cũng cần nâng cao năng lực tự chủ về nguồn cung
- Ông có đề xuất một cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với việc thả nổi giá xăng dầu?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng đây là một chính sách lớn, vì vậy có thể cân nhắc cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, thay vì áp dụng đồng loạt ngay từ đầu.
Có thể lựa chọn một khoảng thời gian nhất định để thí điểm, sau đó đánh giá tác động. Trong quá trình thử nghiệm phải sử dụng các mô hình để đánh giá diễn biến giá, nguồn cung, mức độ cạnh tranh, khả năng chịu đựng của doanh nghiệp và tác động đến người tiêu dùng.
Đặc biệt phải đưa những kịch bản cực đoan vào bài toán. Ví dụ, nếu giá dầu thế giới tăng lên 140 USD một thùng thì thị trường trong nước sẽ phản ứng thế nào? Nếu nguồn cung quốc tế bị đứt gãy thì lượng dự trữ hiện có đủ đáp ứng trong bao lâu? Khi đó, Nhà nước có công cụ gì để can thiệp?
Đây là những câu hỏi phải được trả lời trước khi chính sách chính thức vận hành.
Tôi không cho rằng cơ chế thị trường là xấu. Ngược lại, nó có thể làm cho thị trường năng động và linh hoạt hơn. Nhưng bất kỳ chính sách nào cũng có hai mặt. Nếu không tính đến các tình huống cực đoan, cuối cùng chi phí điều chỉnh có thể chuyển sang người tiêu dùng, đặc biệt là những nhóm yếu thế.
- Vậy theo ông, điều kiện quan trọng nhất để vừa trao quyền chủ động cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm cạnh tranh và quyền lợi người tiêu dùng là gì?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, có mấy điều kiện cần được đặt song song.
Thứ nhất là cạnh tranh thực chất. Phải có đủ chủ thể tham gia thị trường, hạn chế khả năng hình thành độc quyền hoặc liên kết thao túng giá.
Thứ hai là minh bạch thông tin. Giá nhập khẩu, giá bán, hóa đơn đầu vào, đầu ra và lượng dự trữ phải được số hóa, có khả năng kiểm tra và đối chiếu.
Thứ ba là dự trữ đủ lớn. Đây là mặt hàng chiến lược nên không thể phó mặc hoàn toàn cho thị trường. Doanh nghiệp phải có nghĩa vụ dự trữ nhất định và Nhà nước cũng cần có dự trữ chiến lược để xử lý những cú sốc lớn.
Thứ tư là hậu kiểm hiệu quả. Khi doanh nghiệp được tự quyết giá thì cơ quan quản lý càng phải có năng lực giám sát dựa trên dữ liệu. Nếu phát hiện hành vi vi phạm thì phải xử lý nhanh và đủ sức răn đe.
Tôi cũng cho rằng cần có cơ chế công bố thông tin thị trường thường xuyên, thậm chí có thể nghiên cứu một nền tảng hoặc sàn công bố thông tin về giá, nguồn cung và lượng dự trữ để người tiêu dùng có thể theo dõi.
Khi mọi người đều có thể nhìn thấy thông tin một cách rõ ràng thì khả năng thao túng thị trường sẽ giảm xuống. Doanh nghiệp được tự do nhưng không có nghĩa là được tự do che giấu thông tin hoặc vi phạm pháp luật.
Ngoài ra, Việt Nam cũng cần nâng cao năng lực tự chủ về nguồn cung. Các nhà máy lọc dầu trong nước như Nghi Sơn và Dung Quất cần đóng vai trò lớn hơn trong bảo đảm nguồn cung. Nếu nguyên liệu đầu vào vẫn phụ thuộc nhiều vào thị trường quốc tế thì khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài vẫn hạn chế.
Vì vậy, tôi nhìn nhận việc chuyển sang cơ chế thị trường là một bước đi có thể tạo ra sự năng động, nhưng phải đi cùng một hệ thống 'bộ đệm' đủ mạnh. Thả giá không có nghĩa là Nhà nước buông quản lý; Nhà nước cần chuyển từ quản lý trực tiếp sang quản lý bằng dữ liệu, dự trữ, cạnh tranh, minh bạch và hậu kiểm.
Trân trọng cảm ơn ông!