Doanh nghiệp Việt ứng phó với áp lực tài chính hiện tại?

Khi các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng kế hoạch ngân sách cho năm 2026, giá dầu khoảng 66 USD/thùng. Đến tháng 4, giá dầu Brent chạm mốc 117 USD/thùng, tăng 72% trong một năm do xung đột tại Trung Đông gây gián đoạn lưu thông qua eo biển Hormuz.
Mặc dù một hiệp định ngừng bắn được công bố vào giữa tháng 6, sự giải thoát này có thể chỉ là tạm thời. Sản xuất, lọc dầu và logistics sẽ cần ba đến sáu tháng để bình thường hóa, và các thị trường dự kiến sẽ vẫn còn biến động. Giá dầu vẫn ở quanh mức 80 USD/thùng, cao hơn đáng kể so với tháng 1, và với một quốc gia nhập khẩu khoảng 85% lượng dầu thô từ khu vực này, áp lực chi phí sẽ kéo dài cho đến nửa cuối năm.
PwC Việt Nam cho rằng mối nguy thực sự không nằm ở bất kỳ một cú sốc đơn lẻ nào, mà ở chỗ nhiều cú sốc đang ập đến cùng một lúc, đồng thời bào mòn biên lợi nhuận, thanh khoản và khả năng tiếp cận nguồn vốn.
Cơ chế tác động khá dễ nhận thấy nhưng có tính kết hợp. Chi phí đầu vào và logistics đã tăng mạnh, và mặc dù giá dầu đã giảm từ mức đỉnh điểm, các tuyến đường vòng vẫn kéo dài hơn và phí nhiên liệu vẫn tiếp tục áp dụng. Đồng thời, điều kiện tín dụng đang bị siết chặt, vay vốn trở nên đắt đỏ hơn, trong khi khách hàng đang chịu cùng áp lực thì đặt hàng ít hơn và thanh toán chậm hơn.
Hệ quả là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt bị kéo dài. Dòng tiền bị "mắc kẹt" ngày càng nhiều trong các khoản phải thu và hàng tồn kho, đúng vào thời điểm nguồn vốn bên ngoài trở nên khó tiếp cận hơn. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, bán lẻ và logistics, sự kết hợp này đang tạo áp lực kéo dài lên thanh khoản.
Điều đáng chú ý, theo PwC, là phần lớn lời giải lại nằm ngay bên trong chính doanh nghiệp. "Qua quá trình làm việc với các doanh nghiệp sản xuất, bán lẻ và thương mại trên khắp Việt Nam, chúng tôi liên tục nhận thấy một điểm chung: Một phần lớn dòng tiền của doanh nghiệp đang ẩn ngay trước mắt, bị 'khóa chặt' trong hàng tồn kho để lâu ngày, các khoản phải thu chậm luân chuyển và những rủi ro mà không ai chủ động phòng ngừa", ông Mohammad Mudasser, Giám đốc Dịch vụ Tư vấn Thương vụ (Deals Advisory) của PwC, chia sẻ.
"Điều thường bị đánh giá thấp là vấn đề này có thể được khắc phục nhanh đến mức nào. Chỉ trong vài tháng, doanh nghiệp có thể giải phóng một lượng tiền mặt đáng kể mà không cần vay nợ mới. Tối ưu hóa quy trình từ hợp đồng đến thu tiền (Contract to Cash), loại bỏ những khâu trùng lặp và điểm nghẽn, xây dựng chiến lược quản lý chuỗi cung ứng và hàng tồn kho tinh gọn hơn, hay triển khai các cấu trúc như tài trợ chuỗi cung ứng và tài trợ hóa đơn, đều có thể khơi thông thanh khoản mà không phụ thuộc vào tín dụng truyền thống, vốn đang vừa khan hiếm vừa đắt đỏ.
Những công cụ hỗ trợ như tăng tốc độ thu hồi công nợ, nắm bắt dòng tiền theo thời gian thực, và thiết lập các biện pháp phòng vệ cơ bản trước biến động giá dầu và tỷ giá, những khách hàng mà chúng tôi đồng hành đã giải phóng được nguồn vốn lưu động gần như không tốn chi phí và cải thiện lợi nhuận mà không phải chờ bức tranh vĩ mô sáng sủa trở lại."
Và đó chính là điểm mấu chốt. Bản thân cú sốc đến từ bên ngoài và nằm ngoài tầm kiểm soát của bất kỳ ai. Nhưng cách ứng phó: Giải phóng dòng tiền nhanh đến đâu trong cửa sổ chuyển tiếp này, phòng ngừa rủi ro tốt đến mức nào trước khi bình thường hóa, lãnh đạo nhìn rõ tình hình tài chính của mình đến đâu, lại hoàn toàn nằm trong tay nhà quản trị.
Với sự phục hồi chuỗi cung ứng dự kiến sẽ mất nhiều tháng, câu hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam không phải là liệu chúng có thể chờ đợi bình thường hóa hoàn toàn hay không, mà là liệu chúng ta hành động ngay bây giờ, hay chờ đợi cho đến khi cú sốc tiếp theo buộc họ phải hành động, với chi phí cao hơn nhiều.
-Thu Ngân
]]>