Nhận định thị trường

Dự báo lợi nhuận nhóm ngân hàng tăng hơn 19% trong quý 3, áp lực nợ xấu chưa rõ nét

Vneconomy
· 22 giờ trước

Tín dụng toàn ngành vẫn tăng trưởng khả quan trên nền tảng đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp lớn và FDI. Áp lực nợ xấu trong quý 3/2026 vẫn chủ yếu đến từ nhóm khách hàng SME và cho vay bán lẻ dưới áp lực lãi suất cao, đặc biệt tại nhóm Ngân hàng thương mại cổ phần.

Dự báo lợi nhuận nhóm ngân hàng tăng hơn 19% trong quý 3, áp lực nợ xấu chưa rõ nét

MBS vừa đưa ra dự báo lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết trong danh mục theo dõi ghi nhận tăng trưởng 19,1% so với cùng kỳ trong quý 3/2026, chủ yếu được dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh.

Thu nhập lãi thuần của nhóm Ngân hàng Thương mại Quốc doanh dự kiến tăng 22,1% so với cùng kỳ, cao hơn đáng kể so với mức tăng 14,1% so với cùng kỳ của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.

Diễn biến này được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng duy trì tích cực tại các phân khúc doanh nghiệp và khách hàng có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi biên lãi ròng (NIM) của nhóm Ngân hàng thương mại quốc doanh cải thiện rõ hơn so với cùng kỳ nhờ chi phí vốn thấp hơn, lợi thế về tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và tỷ trọng các khoản vay trung và dài hạn chuyển sang lãi suất thả nổi gia tăng.

Bên cạnh đó, chi phí trích lập của nhóm ngân hàng quốc doanh dự kiến giảm đáng kể so với cùng kỳ, qua đó tiếp tục hỗ trợ đà tăng trưởng lợi nhuận.

Đối với nhóm Ngân hàng thương mại cổ phần, thu nhập lãi thuần tăng trưởng thấp hơn nhóm quốc doanh do áp lực giảm NIM lớn hơn khi các ngân hàng phải gia tăng huy động nhằm đảm bảo thanh khoản, trong khi các mảng cho vay có lợi suất cao như khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) vẫn chưa phục hồi nhu cầu.

Các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tiếp tục hưởng lợi từ tăng trưởng tín dụng cao và không bị hạn chế trong các hoạt động cho vay bất động sản, do đó được dự báo chịu ít tác động giảm NIM hơn.

Nhìn chung, MBS kỳ vọng mặt bằng NIM toàn ngành trong quý 3/2026 vẫn chịu áp lực từ chi phí vốn neo cao, đặc biệt tại nhóm Ngân hàng thương mại cổ phần có tăng trưởng tín dụng nhanh hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào huy động kỳ hạn. Thu nhập ngoài lãi được kỳ vọng tiếp tục được dẫn dắt chủ yếu bởi phí dịch vụ và thu hồi các khoản nợ đã xử lý rủi ro.

MBS cho rằng tín dụng toàn ngành vẫn tăng trưởng khả quan trên nền tảng đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp lớn và FDI. Áp lực nợ xấu trong quý 3/2026 vẫn chủ yếu đến từ nhóm khách hàng SME và cho vay bán lẻ dưới áp lực lãi suất cao, đặc biệt tại nhóm Ngân hàng thương mại cổ phần. 

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ nợ xấu hình thành trên bình quân dư nợ của các ngân hàng được MBS Research theo dõi giảm nhẹ 5 điểm cơ bản so với cùng kỳ, cho thấy áp lực nợ xấu chưa gia tăng rõ nét. Cùng với đó, các ngân hàng đã gia tăng trích lập dự phòng đáng kể trong 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ, giúp củng cố bộ đệm dự phòng và tạo dư địa để xử lý nợ xấu trong các quý tiếp theo. 

Nhóm ngân hàng có xu hướng cho vay thận trọng, kiểm soát chất lượng tài sản và duy trì bộ đệm tốt như VCB, CTG, ACB, TCB được kỳ vọng có tỷ lệ nợ xấu cuối quý 3/2026 đi ngang so với đầu năm. Trong khi đó, một số ngân hàng như HDB, LPB, STB, TPB vẫn được dự báo sẽ có chất lượng tài sản suy giảm.

Tổng chi phí trích lập của các ngân hàng được theo dõi dự kiến tăng 6,7% so với cùng kỳ, trong đó nhóm Ngân hàng thương mại quốc doanh giảm 18,5% so với cùng kỳ, trong khi nhóm tư nhân tăng 28,8% so với cùng kỳ.

Diễn biến này cho thấy bộ đệm dự phòng và khả năng kiểm soát chi phí tín dụng của nhóm quốc doanh vẫn tốt hơn, trong khi nhóm tư nhân tiếp tục phải duy trì trích lập ở mức cao hơn nhằm xử lý áp lực từ các khoản vay bán lẻ, SME và bất động sản. Mức chi phí dự phòng này giảm tốc mạnh so với mức tăng 29% của nửa đầu năm.

Trên cơ sở đó, MBS duy trì khuyến nghị khả quan cho toàn ngànhnhờ định giá đã điều chỉnh về vùng thấp hơn mức trung bình 3 năm và 5 năm, trong khi triển vọng tăng trưởng lợi nhuận năm 2026 của các ngân hàng được theo dõi vẫn đạt khoảng 22% so với cùng kỳ. 

MBS ưu tiên các ngân hàng CTG, TCB, VPB có một trong những đặc điểm sau: Hưởng lợi từ việc thúc đẩy đầu tư công, xuất nhập khẩu hoặc được cấp hạn mức tín dụng cao hơn toàn ngành; Chất lượng tài sản duy trì tốt hơn mặt bằng chung, qua đó giảm áp lực chi phí tín dụng; Có lợi thế về CASA, chi phí vốn thấp hoặc có câu chuyện riêng về tái cơ cấu, bán vốn và xử lý tài sản tồn đọng.