Nông sản - Thực phẩm

Giá tiêu hôm nay 26/3: Tiêu Malaysia tăng mạnh, trong khi Việt Nam vẫn giữ ổn định

Vietnambiz
· 4 giờ trước

Cập nhật giá tiêu

Tại thị trường trong nước

Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm giữ ổn định ở mức 137.000 – 139.000 đồng/kg.

Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (Lâm Đồng) được thu mua ở mức cao nhất là 139.000 đồng/kg. Tiếp đến, giá tiêu tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) được giao dịch ở mức 137.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và Đồng Nai phổ biến ở mức 137.000 đồng/kg.

Thị trường

(khu vực khảo sát)

Giá thu mua ngày 26/3

(Đơn vị: VNĐ/kg)

Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg)

Đắk Lắk

139.000

-

Gia Lai

137.000

-

Đắk Nông

139.000

-

Bà Rịa – Vũng Tàu

137.500

-

Bình Phước

137.000

-

Đồng Nai

137.000

-

Trên thị trường thế giới

Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu), từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Malaysia tăng 2,2% (200 USD/tấn), lên mức 9.300 USD/tấn.

Tại các quốc gia sản xuất hàng đầu khác, giá tiêu nhìn chung vẫn ổn định. Hiện giá tiêu đen của Indonesia được giao dịch ở mức 6.994 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 có giá 6.050 USD/tấn.

Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn duy trì trong khoảng 6.300 – 6.400 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.

Tên loại

Bảng giá tiêu đen thế giới

Ngày 26/3 (ĐVT: USD/tấn)

% thay đổi so với hôm trước

Tiêu đen Lampung (Indonesia)

6.994

-

Tiêu đen Brazil ASTA 570

6.050

-

Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA

9.300

+2,20

Tiêu đen Việt Nam (500 g/l)

6.300

-

Tiêu đen Việt Nam (500 g/l)

6.400

-

Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Malaysia tăng 100 USD/tấn, lên mức 12.200 USD/tấn.

Tại Indonesia, giá tiêu trắng Muntok vẫn duy trì ổn định ở mức 9.260 USD/tấn. Tương tự, giá tiêu trắng Việt Nam đứng ở mức 9.050 USD/tấn.

Tên loại

Bảng giá tiêu trắng thế giới

Ngày 26/3 (ĐVT: USD/tấn)

% thay đổi so với hôm trước

Tiêu trắng Muntok Indonesia

9.260

-

Tiêu trắng Malaysia ASTA

12.200

+0,83

Tiêu trắng Việt Nam

9.050

-

Cập nhật thông tin hồ tiêu

Vneconomy đưa tin, theo số liệu từ Cục Hải quan, tính từ đầu năm đến ngày 15/3, tổng lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam đạt 48.192 tấn, thu về 312,23 triệu USD, tăng lần lượt 34,6% và 28%.

Trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, tiêu đen tiếp tục chiếm ưu thế với khối lượng xuất khẩu cao gấp 5 lần so với tiêu trắng. Điều này cho thấy tiêu đen vẫn là mặt hàng chủ lực nhờ lợi thế về sản lượng và giá thành cạnh tranh. Tuy nhiên, sự gia tăng tỷ trọng tiêu trắng và các sản phẩm chế biến sâu cũng phản ánh xu hướng dịch chuyển dần sang phân khúc giá trị cao.

Trong 2 tháng đầu năm 2026, Mỹ và Trung Quốc tiếp tục là hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, lần lượt chiếm 29,9% và 12,8% tổng lượng xuất khẩu. Trong khi thị trường Mỹ duy trì nhu cầu ổn định, thì Trung Quốc đang có dấu hiệu tăng nhập khẩu trở lại sau giai đoạn trầm lắng.

Một điểm đáng chú ý là sự vươn lên mạnh mẽ tại thị trường Thái Lan. Trong 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hồ tiêu sang thị trường này tăng tới 125% về lượng và 104% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện Việt Nam gần như 'độc chiếm' nguồn cung tại đây, chiếm tới 99,63% tổng lượng nhập khẩu tiêu của Thái Lan.

Tại Thái Lan, quốc gia này đang chủ yếu nhập tiêu của Việt Nam. Nguyên nhân, đó là nhu cầu gia vị phục vụ ngành thực phẩm và du lịch tăng nhanh, trong khi sản xuất nội địa hạn chế và chi phí cao. Bên cạnh đó, xu hướng tăng dự trữ trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu thu hẹp cũng khiến quốc gia này đẩy mạnh nhập khẩu.

Ở góc độ doanh nghiệp, các 'đầu tàu' xuất khẩu tiếp tục thể hiện vai trò dẫn dắt thị trường. Olam Việt Nam đứng đầu với sản lượng 1.302 tấn, tiếp theo là Phúc Sinh (1.226 tấn) và Simexco Đắk Lắk (758 tấn).

Sự nổi bật của các doanh nghiệp lớn không chỉ nằm ở quy mô xuất khẩu mà còn ở năng lực chế biến sâu, hệ thống khách hàng quốc tế ổn định và khả năng tận dụng cơ hội thị trường. Đây chính là lực lượng tiên phong trong quá trình tái cấu trúc ngành hồ tiêu theo hướng hiện đại và bền vững.

Đà tăng trưởng của hồ tiêu Việt Nam diễn ra trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều yếu tố hỗ trợ. Dự báo trong năm 2026, nguồn cung hồ tiêu toàn cầu có thể giảm từ 15-20% do tồn kho tại các quốc gia sản xuất lớn suy giảm, trong khi nhu cầu tiêu dùng phục hồi rõ nét, đặc biệt từ ngành thực phẩm chế biến.

Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ (Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường), giai đoạn 2024-2025 đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khi ngành hồ tiêu Việt Nam chuyển hướng từ tăng trưởng theo khối lượng sang tăng trưởng theo giá trị.

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ cho hay trong bối cảnh giá thuận lợi, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đang tích cực tái cơ cấu danh mục sản phẩm, tập trung vào tiêu trắng, tiêu hữu cơ và các sản phẩm chế biến sâu phục vụ chuỗi bán lẻ cao cấp. Công nghệ hiện đại như làm sạch bằng hơi nước, tiệt trùng, nghiền mịn hay chiết xuất tinh dầu đang giúp gia tăng đáng kể giá trị sản phẩm. Đồng thời, hệ thống kho lưu trữ đạt chuẩn châu Âu, truy xuất nguồn gốc vùng trồng và kiểm định chất lượng cũng được đầu tư mạnh mẽ.

Một xu hướng đáng chú ý là việc Việt Nam gia tăng nhập khẩu hồ tiêu thô từ các quốc gia như Brazil, Campuchia, Indonesia để phục vụ chế biến và tái xuất. Năm 2025, lượng nhập khẩu đạt 42.688 tấn, tương ứng 266,2 triệu USD. Mô hình này giúp duy trì công suất nhà máy quanh năm, giảm rủi ro mùa vụ và tạo ra giá trị gia tăng từ chênh lệch giá.Nhờ đó, Việt Nam không chỉ là quốc gia sản xuất mà còn đang nổi lên như một trung tâm chế biến và trung chuyển hồ tiêu của thế giới.

Bên cạnh cơ hội, ngành hồ tiêu cũng đối mặt với những yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế. Các nhà nhập khẩu lớn tại EU, Mỹ và Nhật Bản đang siết chặt tiêu chuẩn về dư lượng hóa chất, lao động và phát thải carbon trong chuỗi cung ứng.

Xu hướng truy xuất nguồn gốc và chứng nhận nông nghiệp bền vững không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để tiếp cận thị trường cao cấp. Điều này tạo ra áp lực nhưng đồng thời cũng thúc đẩy quá trình tái cấu trúc toàn diện ngành hồ tiêu.

Những quốc gia có lợi thế về công nghệ chế biến, logistics và kiểm định chất lượng, trong đó có Việt Nam sẽ nắm ưu thế rõ rệt trong cuộc cạnh tranh mới.

'Từ góc độ vĩ mô, chuỗi giá trị hồ tiêu Việt Nam đang chuyển dịch từ mô hình nông nghiệp truyền thống sang hệ sinh thái công nghiệp chế biến gắn với thương mại toàn cầu', PGS.TS Nguyễn Đình Thọ nhận định; đồng thời cũng lưu ý dù triển vọng năm 2026 được đánh giá tích cực, song ngành hồ tiêu vẫn cần theo dõi sát các yếu tố như biến động giá thế giới, nguồn cung từ các quốc gia sản xuất lớn và chính sách thương mại của các thị trường nhập khẩu.