Khoa học công nghệ giúp ngành nông nghiệp và môi trường phát triển theo chiều sâu

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp và môi trường nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, công nghệ bảo quản, chế biến sâu hạn chế, dữ liệu chưa liên thông đang cản trở tăng trưởng. Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường...
Ngày 27/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Công an tổ chức Hội nghị 'Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường' tại miền Bắc. Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long đồng chủ trì hội nghị.
NĂM ĐIỂM NGHẼN CẢN TRỞ TĂNG TRƯỞNG
Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh trong bối cảnh cạnh tranh thương mại gay gắt, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ngành nông nghiệp và môi trường vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực.
Đáng chú ý, nhiều tiến bộ về giống, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc đã được ứng dụng. Tuy nhiên, để tăng trưởng nhanh và bền vững, ngành cần chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực then chốt theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Theo Bộ trưởng, khu vực phía Bắc có lợi thế về hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ, nhưng liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất còn rời rạc. Vì vậy, cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, chính sách, nguồn lực và ứng dụng công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản.
Báo cáo về kết quả cụ thể, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết năm 2025, ngành tăng trưởng 3,78%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,63 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng đạt 4,02%, kim ngạch xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD.
Ứng dụng giống mới, công nghệ sinh học và quy trình canh tác tiên tiến giúp năng suất các giống lúa mới tăng khoảng 9,9%, sản lượng tăng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm, tạo giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng.
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, song Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết ngành vẫn đối mặt với 5 điểm nghẽn, đó là sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ dàn trải; hạn chế về giống và công nghệ đầu vào; thiếu công nghệ bảo quản, chế biến sâu; dữ liệu chưa liên thông và nhân lực số còn yếu.
Trong chăn nuôi, khoảng 65% nguyên liệu thức ăn vẫn phải nhập khẩu, công nghệ hiện đại chủ yếu tập trung tại các trang trại lớn. Thủy sản chưa khai thác hết tiềm năng nuôi biển do hạn chế về giống, hạ tầng và liên kết thị trường. Các chuỗi giá trị keo, tre nứa, quế cũng gặp khó khăn về giống, sâu bệnh, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn xuất khẩu.
Để tháo gỡ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất ưu tiên giống chất lượng cao, công nghệ sinh học, tự động hóa, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc; đổi mới nghiên cứu theo nhu cầu doanh nghiệp, thị trường, tăng cường liên kết viện, trường, doanh nghiệp và địa phương. Các nhiệm vụ khoa học cần gắn với sản phẩm cụ thể, khả năng thương mại hóa và hiệu quả kinh tế.
DOANH NGHIỆP ĐỀ XUẤT THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN
Tại hội nghị, đại diện các doanh nghiệp Doveco, Dabaco, TH, Woodsland cùng các cơ sở nghiên cứu chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ, phát triển chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, chế biến.
Ông Đinh Cao Khuê, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch Doveco, cho biết kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng từ 3,2 tỷ USD năm 2020 lên 8,56 tỷ USD năm 2025. Năm 2026, ngành có thể đạt 9,5-10 tỷ USD và hướng tới mục tiêu 20 tỷ USD trong những năm tới nếu giải quyết tốt các điểm nghẽn về vùng nguyên liệu và công nghệ.
Ứng dụng khoa học công nghệ đã giúp doanh nghiệp chủ động nguồn giống chanh leo thông qua hợp tác với viện nghiên cứu, trường đại học, giảm phụ thuộc nhập khẩu từ Đài Loan. Với cây dứa, năng suất tăng từ khoảng 50 tấn/ha ở giống Queen lên 70 tấn/ha ở giống Cayenne. Giống MD2 đang được phát triển với năng suất khoảng 100 tấn/ha, giá bán có thể gấp đôi giống truyền thống nhờ tỷ lệ xuất khẩu tươi cao.
Tuy nhiên, vùng nguyên liệu hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chế biến, trong khi Doveco dự kiến xây dựng nhà máy mới tại Nghệ An với công suất 30 tấn sản phẩm/giờ để phục vụ khu vực Bắc Trung Bộ. Trước thực trạng này, ông Khuê kiến nghị cần đẩy mạnh đầu tư hạ tầng vùng trồng, đặc biệt là hệ thống tưới tiêu; hỗ trợ nhân giống dứa MD2 bằng công nghệ nuôi cấy mô, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các viện, trường. Bên cạnh đó, chuyển đổi số cũng cần được triển khai xuyên suốt từ khâu quản lý vùng nguyên liệu cho đến chế biến và tiêu thụ.
Trong lĩnh vực chè, bà Nguyễn Thị Vinh, Chủ tịch Công ty CP Chè Quân Chu, cho biết giá chè tươi khoảng 25.000-30.000 đồng/kg, trong khi chè chế biến có thể đạt hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu đồng/kg tùy chủng loại và phân khúc. Điều này cho thấy dư địa gia tăng giá trị thông qua công nghệ chế biến, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.
Theo bà Vinh, ngành chè còn hạn chế về ứng dụng kết quả nghiên cứu và dữ liệu vùng trồng. Doanh nghiệp cần phối hợp với cơ quan quản lý, nhà khoa học để chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển hạ tầng dữ liệu và nâng cao giá trị sản phẩm.
Trong khi đó, ở lĩnh vực chăn nuôi, ông Nguyễn Như So, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam, đề xuất một số nhóm giải pháp để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực nâng cao năng suất, giảm giá thành và tăng sức cạnh tranh ngành chăn nuôi.
Dabaco đã đầu tư nhiều nhiệm vụ nghiên cứu, chọn tạo giống vật nuôi, trong đó có dự án chọn tạo các dòng lợn thuần giai đoạn 2017-2020 với kinh phí hơn 24,5 tỷ đồng; nghiên cứu phát triển nguồn gen lợn ỉ giai đoạn 2018-2023 với kinh phí hơn 10,2 tỷ đồng; và chương trình phát triển giống gà Hồ giai đoạn 2019-2024, kinh phí 7,5 tỷ đồng.
Từ thực tiễn hoạt động, Dabaco kiến nghị hoàn thiện cơ chế hỗ trợ chăn nuôi công nghệ cao theo chuỗi khép kín; tạo điều kiện công nhận giống vật nuôi do doanh nghiệp nghiên cứu; điều tiết tổng đàn phù hợp cung cầu; kiểm soát nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi; rà soát quy chuẩn môi trường và lộ trình xử lý nước thải; phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu; đồng thời đẩy mạnh chế biến sâu thịt lợn theo chuỗi giá trị khép kín.