Kỹ sư Việt có khả năng thực hiện gần như toàn bộ chuỗi giá trị thiết kế chip

Bán dẫn, nền tảng quan trọng để tạo ra những đột phá công nghệ, đang chứng kiến quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu. Nhiều quốc gia đã và đang đầu tư quy mô lớn vào công nghệ, nguồn nhân lực và năng lực chống chịu của chuỗi cung ứng.
'Đối với Việt Nam, đây là cơ hội thực sự', PGS.TS Phạm Bảo Sơn, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, nhấn mạnh tại Hội thảo quốc tế "Thiết kế, sản xuất vi mạch và công nghệ cảm biến" (WEFAB 2026) do Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức ngày 19/6.
KẾT NỐI DOANH NGHIỆP VỚI GIẢNG ĐƯỜNG ĐỂ XÂY NỀN CÔNG NGHIỆP BÁN DẪN
Tuy nhiên, PGS.TS Phạm Bảo Sơn cũng khẳng định việc làm chủ công nghệ ở các khâu có giá trị gia tăng cao là quá trình dài hạn. Trong đó, 'các trường đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Không chỉ đào tạo kỹ sư, nhà nghiên cứu và đội ngũ lãnh đạo công nghệ tương lai, đại học còn phải xây dựng nền tảng khoa học và kỹ thuật phục vụ sự phát triển của ngành trong nhiều năm tới', ông Sơn chỉ ra.
Tuy nhiên, các trường đại học không thể phát triển tách rời doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn. Sự đồng hành của doanh nghiệp ngay từ đầu là yếu tố quan trọng giúp nhà trường nhận diện các bài toán công nghệ thực tiễn, xây dựng chương trình đào tạo sát nhu cầu thị trường và định hướng hoạt động nghiên cứu.
PGS.TS Phạm Bảo Sơn thông tin Đại học Quốc gia Hà Nội đang phát triển hệ thống hạ tầng bán dẫn dùng chung phục vụ nghiên cứu, đào tạo, chế tạo mẫu thử và kiểm thử công nghệ trong các lĩnh vực vi điện tử, công nghệ cảm biến, vật liệu tiên tiến và các ngành liên quan tại Hoà Lạc.
Ông cho biết nhiều trường đại học trên cả nước hiện đang đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm bán dẫn theo định hướng của các chương trình phát triển quốc gia. Tuy nhiên, lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội lưu ý các phòng thí nghiệm phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường và doanh nghiệp.
Đại học Quốc gia Hà Nội kỳ vọng cơ sở tại Hòa Lạc sẽ không chỉ là nơi tập trung các tòa nhà nghiên cứu và phòng thí nghiệm, mà trở thành một "phòng thí nghiệm sống" và trung tâm đổi mới sáng tạo thực thụ.
KỸ SỰ VIỆT ĐÃ THAM GIA GẦN NHƯ TOÀN BỘ CHUỖI GIÁ TRỊ THIẾT KẾ CHIP
Phát biểu tại hội thảo, Tiến sĩ Lê Quang Đạm, CEO Marvell Technology Việt Nam, cho biết cách đây khoảng 20-25 năm, số lượng doanh nghiệp thiết kế vi mạch tại Việt Nam còn rất hạn chế, chủ yếu được thành lập bởi các nhà khoa học và kỹ sư Việt Nam có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài trở về.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu, số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực này hiện đã tăng trưởng nhanh chóng.
Dù chưa có thống kê chính thức, ông ước tính Việt Nam hiện có khoảng 70 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thiết kế vi mạch. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu, tập trung khoảng 85% số doanh nghiệp thiết kế vi mạch của cả nước. Phần còn lại chủ yếu phân bố tại Đà Nẵng và Hà Nội, mỗi địa phương chiếm khoảng 7-8%.
Đáng chú ý, theo ông Đạm, đội ngũ kỹ sư Việt Nam hiện đã có khả năng tham gia gần như toàn bộ chuỗi giá trị trong lĩnh vực thiết kế chip.
Từ giai đoạn hình thành ý tưởng sản phẩm, xây dựng kiến trúc hệ thống, thiết kế kiến trúc vi mạch đến các công đoạn kỹ thuật chuyên sâu như thiết kế vật lý (physical design), thiết kế phục vụ kiểm thử (DFT),... đều đã có sự tham gia của kỹ sư Việt Nam.
Không chỉ khâu thiết kế, sau khi chip được chế tạo, các kỹ sư trong nước còn có thể đảm nhiệm các công đoạn đánh giá, kiểm thử sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.
'Đây là minh chứng rõ nét cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể đảm nhận những công việc có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao trong ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu', ông Đạm khẳng định.
Ông Đạm kể lại năm 2013, khi đang làm việc cho Marvell tại Mỹ, ban lãnh đạo tập đoàn bắt đầu nghiên cứu khả năng thành lập một trung tâm nghiên cứu và phát triển (RD) tại Việt Nam. Khi đó, ông đã tình nguyện trở về nước để triển khai dự án.
Marvell Việt Nam khởi đầu với chỉ 5-6 kỹ sư. Sau 12 năm phát triển, công ty hiện có hơn 600 kỹ sư. Mỗi tháng, công ty tiếp tục tuyển thêm nhân sự mới và đặt mục tiêu đạt 700 kỹ sư vào cuối năm 2026.
Xa hơn, theo cam kết của ban lãnh đạo Marvell toàn cầu, quy mô nhân sự tại Việt Nam có thể đạt khoảng 1.000 người trong tương lai, trong đó khoảng 99% là kỹ sư tham gia các công đoạn khác nhau của quá trình thiết kế vi mạch.
"Tôi luôn tin tưởng vào sinh viên và kỹ sư Việt Nam. Các bạn có năng lực, tinh thần học hỏi rất cao và sự tận tâm với công việc", ông Đạm chia sẻ.
Xuất phát từ niềm tin đó, Marvell Việt Nam đã và đang xây dựng mạng lưới hợp tác với nhiều trường đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho ngành bán dẫn. Bên cạnh các chương trình thực tập, học bổng và hỗ trợ đào tạo, doanh nghiệp cũng tạo điều kiện để sinh viên được tiếp cận sớm với các kiến thức chuyên môn và môi trường làm việc thực tế theo nhu cầu của ngành công nghiệp.
Ông Đạm cho biết tại Marvell Việt Nam, các kỹ sư không bị giới hạn về phạm vi công việc hay mức độ công nghệ được tiếp cận, mà trực tiếp tham gia phát triển những con chip tiến trình tiên tiến nhất thế giới như 3nm, 2nm và mới nhất là công nghệ 14 angstrom.
Thậm chí, đội ngũ còn tham gia vào các lĩnh vực điện toán hiệu năng cao (high-performance computing) và nghiên cứu các công nghệ kết nối quang học tiên tiến với tốc độ truyền dữ liệu từ 400 gigabit/giây, 800 gigabit/giây, 1,6 terabit/giây đến 3,2 terabit/giây và 6,4 terabit/giây.
Theo ông Đạm, thành công của Marvell Việt Nam chính là minh chứng cho năng lực của đội ngũ kỹ sư trong nước khi được trao cơ hội tiếp cận các dự án và công nghệ hàng đầu thế giới.
Trong khuôn khổ chương trình, Đại học Quốc gia Hà Nội đã khởi xướng thành lập Liên minh hỗ trợ thúc đẩy hoạt động đào tạo, nghiên cứu và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp bán dẫn. Liên minh hiện có hơn 30 thành viên là các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức và doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trong đó có ĐHQGHN, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Đại học Cần Thơ, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Học viện Kỹ thuật mật mã, Đại học Sungkyunkwan (Hàn Quốc), Đại học Kumamoto (Nhật Bản), Đại học Quảng Tây (Trung Quốc), Đại học Kỹ thuật Năng lượng Moscow, Đại học Kinh tế cao cấp (Nga), cùng các tập đoàn, doanh nghiệp như FPT, Viettel, CMC, CT Group, MK Group, Nisso (Nhật Bản), MRIV International…
-Bạch Dương
]]>