Tin tức thị trường

Kỹ thuật nội soi 'mở lối' cho chẩn đoán, điều trị bệnh lý mật, tụy

Vneconomy
· 10 giờ trước

Từ chỗ chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong một số trường hợp đặc biệt, nội soi đường mật đang từng bước trở thành "cánh tay nối dài", giúp bác sĩ giải quyết nhiều bài toán lâm sàng phức tạp mà trước đây còn nhiều hạn chế…

Ảnh: Bệnh viện Trung ương Huế
Ảnh: Bệnh viện Trung ương Huế

Mới đây, các bác sĩ Bệnh viện Việt - Hàn Đà Nẵng vừa thực hiện nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP), lấy thành công viên sỏi ống mật chủ kích thước khoảng 12mm cho bệnh nhân nam 71 tuổi có nhiều bệnh lý nền và sử dụng thuốc chống đông kéo dài.

Theo đó, bệnh nhân có tiền sử nhiều lần nhập viện do viêm đường mật tái phát, thường xuyên đau bụng, sốt và vàng da. Bệnh nhân có nhiều bệnh lý kèm theo và phải sử dụng thuốc chống đông kéo dài nên việc phẫu thuật lấy sỏi được đánh giá tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Sau khi thăm khám, đánh giá toàn diện và hội chẩn các chuyên khoa liên quan, ê-kíp quyết định lựa chọn kỹ thuật ERCP.

Trong quá trình can thiệp, bác sĩ phát hiện cơ vòng Oddi ở đoạn cuối ống mật chủ dày và chít hẹp đáng kể do tình trạng viêm đường mật tái diễn nhiều lần. Ê-kíp sử dụng dụng cụ chuyên dụng để mở rộng vị trí hẹp, giải phóng đường mật, sau đó lấy thành công viên sỏi 12mm bằng rọ. Thủ thuật diễn ra thuận lợi, ngày hôm sau, bệnh nhân hết đau bụng, ăn uống tốt, các dấu hiệu nhiễm trùng đường mật giảm rõ rệt.

BSCKI. Tô Ngọc Hùng, Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện Việt - Hàn Đà Nẵng, cho biết ERCP là kỹ thuật can thiệp chuyên sâu được bệnh viện triển khai thường quy. Thông qua đường nội soi, bác sĩ có thể thực hiện nhiều can thiệp như lấy sỏi, lấy giun đường mật, xử trí hẹp đường mật, đặt stent dẫn lưu trong các trường hợp u đường mật, u đầu tụy và các nguyên nhân gây tắc mật khác.

Bệnh nhân có tiền sử nhiều lần nhập viện do viêm đường mật tái phát. Ảnh: Bệnh viện Việt - Hàn Đà Nẵng
Bệnh nhân có tiền sử nhiều lần nhập viện do viêm đường mật tái phát. Ảnh: Bệnh viện Việt - Hàn Đà Nẵng

Tương tự, các bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình vừa thực hiện thành công ca nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) đầu tiên để điều trị cho một cụ bà 80 tuổi bị nhiễm trùng đường mật. Người bệnh là bà N.T.S. (trú tại xã Lê Hồ), nhập viện trong tình trạng đau vùng thượng vị, sốt cao và vàng da. Trước đó 10 năm, bà từng điều trị ung thư vú bằng phẫu thuật và hóa trị, đồng thời có tiền sử tăng huyết áp nhiều năm. 

Sau khi hội chẩn, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) cấp cứu. Theo ThS.BS. Đặng Trung Hiếu, thay vì phải mổ mở với nhiều nguy cơ ở người bệnh lớn tuổi, ê-kíp lựa chọn kỹ thuật ERCP để lấy sỏi qua đường tự nhiên. "Đây là người bệnh đầu tiên được thực hiện kỹ thuật ERCP tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình", bác sĩ Hiếu cho biết.

Sau can thiệp, người bệnh được theo dõi tại Trung tâm Tiêu hóa - Gan mật. Chỉ sau một ngày, sức khỏe cụ bà cải thiện rõ rệt, hết đau bụng, có thể ăn uống trở lại. Thành công của ca ERCP đầu tiên tạo điều kiện để người dân khu vực Ninh Bình và các tỉnh lân cận có thêm cơ hội tiếp cận các kỹ thuật chuyên sâu ngay tại địa phương, giảm thời gian chờ đợi, tiết kiệm chi phí đi lại.

Sau khi hội chẩn, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) cấp cứu. Ảnh: Bệnh viện Bạch Mai
Sau khi hội chẩn, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) cấp cứu. Ảnh: Bệnh viện Bạch Mai 

Tại Hội thảo Nội soi Quốc tế Đông Nam Á 2026 ở Huế vừa qua, GS.TS Phạm Như Hiệp, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, nhận định từ một phương pháp chủ yếu phục vụ chẩn đoán, ERCP hiện được ứng dụng rộng rãi trong điều trị. 

Ưu điểm của kỹ thuật này là có thể xử lý nhiều tổn thương mà không cần phẫu thuật mở, giúp giảm mức độ xâm lấn, rút ngắn thời gian nằm viện và hỗ trợ người bệnh hồi phục nhanh hơn. ERCP đặc biệt có ý nghĩa đối với người cao tuổi hoặc người có nhiều bệnh lý nền, không thuận lợi khi thực hiện các cuộc phẫu thuật lớn.

Bên cạnh ERCP, EUS là kỹ thuật kết hợp nội soi với đầu dò siêu âm gắn ở đầu ống, cho phép quan sát chi tiết các cơ quan nằm sát thành ống tiêu hóa như tụy, đường mật, túi mật, hạch và các lớp thành ống tiêu hóa. Nhờ khả năng cung cấp hình ảnh chi tiết, kỹ thuật này hỗ trợ phát hiện sỏi nhỏ trong ống mật chủ, đánh giá khối u tụy, nang tụy và xác định giai đoạn ung thư đường tiêu hóa.

EUS còn cho phép chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm để phục vụ chẩn đoán. Trong điều trị can thiệp, kỹ thuật này có thể được sử dụng để dẫn lưu nang giả tụy, ổ hoại tử tụy, dẫn lưu đường mật vào dạ dày hoặc tá tràng trong trường hợp ERCP không thực hiện được. Ngoài ra, EUS còn hỗ trợ phong bế đám rối thần kinh nhằm giảm đau cho người bệnh ung thư tụy.

Tại hội thảo, dấu ấn chuyên môn cũng đến từ các phiên trình diễn kỹ thuật trực tiếp. Ảnh: Bệnh viện Trung ương Huế
Tại hội thảo, dấu ấn chuyên môn cũng đến từ các phiên trình diễn kỹ thuật trực tiếp. Ảnh: Bệnh viện Trung ương Huế

Việc phối hợp ERCP và EUS giúp bác sĩ có thêm cơ sở lựa chọn phương án chẩn đoán, điều trị phù hợp với từng trường hợp, đồng thời mở rộng khả năng can thiệp ít xâm lấn. Tuy nhiên, đây là những kỹ thuật chuyên sâu, đòi hỏi hệ thống trang thiết bị hiện đại cùng đội ngũ bác sĩ được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm thực hành.

Trước đó, tại hội thảo khoa học 'Tiến bộ công nghệ nội soi đường mật trong nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP): Tối ưu chẩn đoán và điều trị', PGS.TS Nguyễn Công Long, Giám đốc Trung tâm Tiêu hóa - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết giá trị lớn nhất của công nghệ này là giúp bác sĩ tiếp cận trực tiếp tổn thương thay vì chỉ đánh giá qua hình ảnh gián tiếp như trước đây.

Nhiều trường hợp hẹp đường mật, tổn thương sau ghép gan hay các bất thường ở đường tụy từng là thách thức lớn trong chẩn đoán và điều trị do bác sĩ chỉ có thể quan sát những hình ảnh gián tiếp. Với nội soi đường mật kỹ thuật số thế hệ mới, bác sĩ có thể đi trực tiếp vào lòng đường mật, quan sát chi tiết niêm mạc, hệ thống mạch máu, xác định chính xác vị trí tổn thương và thực hiện sinh thiết ngay tại vị trí nghi ngờ.

BSCKII. Đặng Quang Nam, Trung tâm Tiêu hóa - Gan mật, gọi đây là bước chuyển từ 'nhìn bóng tổn thương' sang 'nhìn thấy tổn thương thật'. 'ERCP không phải lúc nào cũng đủ. Những trường hợp khó nhất không phải là lấy sỏi mà là khi ERCP không thể cho chúng ta câu trả lời cuối cùng', BSCKII Đặng Quang Nam nhấn mạnh.

ERCP hiện được ứng dụng rộng rãi trong điều trị. Ảnh minh họa: Porrini
ERCP hiện được ứng dụng rộng rãi trong điều trị. Ảnh minh họa: Porrini

Bên cạnh đó, ung thư đường mật thường được phát hiện muộn do triệu chứng không đặc hiệu và việc tiếp cận để lấy mẫu mô rất khó khăn. PGS.TS Nguyễn Công Long cho biết nội soi đường mật đã thay đổi đáng kể cách tiếp cận này.

Các bác sĩ giờ đây có thể quan sát trực tiếp vị trí tổn thương, đánh giá các dấu hiệu nghi ngờ ác tính và sinh thiết chính xác ngay tại chỗ. Khả năng sinh thiết trúng đích cũng giúp nâng cao đáng kể độ chính xác trong chẩn đoán, góp phần tăng cơ hội phát hiện sớm ung thư đường mật và lựa chọn được phương pháp điều trị phù hợp nhất cho người bệnh.