Lãi suất chạm đỉnh 13%/năm, vì sao hiệu suất quỹ đầu tư trái phiếu vẫn thấp?
Vietnamfinance
· 18/09/2026
Lãi suất chạm đỉnh 13%/năm, vì sao hiệu suất quỹ đầu tư trái phiếu vẫn thấp?Mặc Viễn-18/09/2026 10:00 (GMT+7)(VNF) - Sự xuất hiện của các lô trái phiếu lãi suất 12–13%/năm chưa thể ngay lập tức kéo tăng hiệu suất của các quỹ đầu tư, hiện chỉ đang dao động quanh mức 4–6%. Đằng sau khoảng cách này là bài toán độ trễ danh mục và áp lực dự trữ tiền mặt để ứng phó với dòng vốn rút ròng.Lãi suất mới lên hai chữ số, quỹ trái phiếu vẫn sinh lời 4–6%Thị trườngtrái phiếudoanh nghiệp (TPDN) tháng 8 ghi nhận khoảng 35.000 tỷ đồng phát hành mới. Ngân hàng chiếm 82% tổng giá trị, bất động sản nhà ở chiếm 9%, còn phát hành riêng lẻ chiếm 91%. Lãi suất bình quân của trái phiếu ngân hàng ở mức 8,7%/năm, trong khi nhóm bất động sản nhà ở đạt khoảng 12,2%/năm.Một số lô có lãi suất cao hơn mặt bằng chung. Vinhomes phát hành lô VHM12615 trị giá 2.000 tỷ đồng, kỳ hạn 3 năm, với lãi suất kỳ đầu 12,5%/năm. Tandoland phát hành lô TDRL12603 trị giá 258 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, áp dụng lãi suất 13%/năm trong 2 kỳ tính lãi đầu tiên. Tandoland được Saigon Ratings xếp hạng tín nhiệm dài hạn ở mức vnB+, triển vọng ổn định.Trong khi một số khoản phát hành mới đã trả lãi ở mức hai chữ số, mức sinh lời của các quỹ đầu tư trái phiếu lại tập trung trong một khoảng hẹp hơn nhiều.Hình 1: TPDN có lãi suất hai chữ số, phần lớn quỹ trái phiếu sinh lời 4–6%Tính đến đầu tháng 9, 17 trong 24 quỹ, tương đương 70,8%, sinh lời 4–6% từ đầu năm; 23 quỹ ghi nhận mức tăng dương. Mức sinh lời trung vị đạt 4,3%, bình quân khoảng 4,1%. Quỹ Đầu tư Trái phiếu VCBF (VCBF-FIF) đứng đầu với gần 5,5%, tiếp đến Quỹ Đầu tư Trái phiếu Linh hoạt Mirae Asset Việt Nam (MAFF) 5,18%, Quỹ Đầu tư Trái phiếu VietinBank (VTBF) 5,04% và Quỹ Đầu tư Trái phiếu An Bình (ABBF) 5,03%.Hình 2: 17/24 quỹ trái phiếu sinh lời 4–6% từ đầu nămKhoảng cách giữa lãi suất 13% của một lô trái phiếu và mức sinh lời 4–6% của phần lớn quỹ không đồng nghĩa các quỹ đang đầu tư kém hiệu quả. Mức 13% là lãi suất của một khoản nợ cụ thể, còn hiệu suất quỹ phản ánh kết quả của cả danh mục gồm nhiều khoản đầu tư được hình thành ở những thời điểm khác nhau.Một quỹ trái phiếu không chỉ nắm những lô vừa phát hành. Danh mục có thể gồm TPDN, trái phiếu Chính phủ, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi ngân hàng và các tài sản thu nhập cố định khác. Lãi suất của một khoản phát hành mới chỉ tác động đến kết quả khi vốn của quỹ thực sự được phân bổ vào những khoản đầu tư có mặt bằng lợi suất tương ứng.Các khoản đầu tư cũ khiến quỹ hưởng lợi chậm hơnKhoảng 35.000 tỷ đồng TPDN phát hành trong tháng 8 chỉ bằng 2,3% tổng giá trị khoảng 1,49 triệu tỷ đồng đang lưu hành cuối tháng. Phần lớn trái phiếu trên thị trường vẫn là những khoản được phát hành trước khi các lô mang lãi suất 12–13%/năm xuất hiện.Mặt bằng lãi suất mới đi vào danh mục khi quỹ có thêm tiền để đầu tư, trái phiếu cũ đáo hạn hoặc tài sản được cơ cấu lại. Danh mục có nhiều khoản còn thời gian dài tới ngày đáo hạn sẽ tiếp nhận mặt bằng mới chậm hơn danh mục có nhiều tài sản sắp đến hạn.Lợi suất cao hơn cũng tác động theo 2 chiều. Phần vốn đầu tư mới có thể nhận mức lợi suất tốt hơn, trong khi giá của những trái phiếu lãi suất cố định đã nằm trong danh mục có thể thay đổi khi lợi suất chung trên thị trường biến động. Tại phiên đấu thầu ngày 9/9, lãi suất trúng thầu trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm đạt 4,43%/năm; giá trái phiếu lãi suất cố định thường biến động ngược chiều với lợi suất thị trường.Cách phân bổ tài sản giữa các quỹ cũng không giống nhau. VCBF-FIF lấy lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm làm chuẩn tham chiếu, trong khi VinaCapital-VFF sử dụng bình quân lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank. Thành phần tài sản, kỳ hạn và tốc độ quay vòng khác nhau khiến mỗi quỹ tiếp nhận mặt bằng lãi suất mới với tốc độ khác nhau.Gần 6.900 tỷ đồng rút ròng, nhưng diễn ra chủ yếu ở một số quỹ lớnCùng thời điểm lãi suất phát hành ở mức cao, một số quỹ lớn ghi nhận lượng vốn rút đáng kể. Từ đầu năm, 24 quỹ đầu tư trái phiếu ghi nhận rút ròng khoảng 6.883 tỷ đồng, nhưng phần lớn lượng tiền này tập trung tại một số quỹ.Có 17 quỹ ghi nhận dòng tiền âm, 5 quỹ vẫn hút vốn và 2 quỹ gần như đi ngang. Quỹ Đầu tư Trái phiếu Techcom (TCBF) ghi nhận rút ròng gần 4.896 tỷ đồng, Quỹ Đầu tư Trái phiếu Gia tăng Thu nhập Cố định DC (DCIP) 767 tỷ đồng, ABBF 467 tỷ đồng và Quỹ Đầu tư Trái phiếu Dòng tiền Linh hoạt MB (MBAM) 452 tỷ đồng. Bốn quỹ này chiếm 94,2% lượng vốn rút của 17 quỹ có dòng tiền âm.Mức sinh lời cũng không đi cùng chiều với dòng vốn. TCBF tăng 4,75% từ đầu năm, DCIP tăng 4,11% và ABBF tăng 5,03%, trong khi Quỹ Đầu tư Trái phiếu Bản Việt (VCAMFI) chỉ tăng khoảng 3,6% nhưng vẫn hút ròng gần 97 tỷ đồng.Hình 3: Dòng vốn rút tập trung ở một số quỹ trái phiếu lớnVới quỹ mở, việc nhà đầu tư rút tiền làm tăng nhu cầu duy trì một phần tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền. TCBF là trường hợp đáng chú ý khi vừa có quy mô lớn nhất, vừa ghi nhận lượng vốn rút lớn nhất.Tại ngày 31/8, tổng tài sản của TCBF đạt khoảng 4.617 tỷ đồng, trong đó trái phiếu chiếm 3.486 tỷ đồng, tương đương 75,5%; tiền và tiền gửi đạt 734 tỷ đồng, chiếm 15,9%; lãi trái phiếu phải thu khoảng 396 tỷ đồng. Trong 1 tháng gần nhất, quỹ ghi nhận rút ròng khoảng 174 tỷ đồng, thấp hơn đáng kể lượng tiền và tiền gửi tại cuối tháng 8.Tiền và tiền gửi tạo thêm nguồn thanh khoản để đáp ứng nhu cầu mua lại chứng chỉ quỹ mà không phụ thuộc hoàn toàn vào việc bán trái phiếu đang nắm giữ. Phần tài sản này có mức sinh lời khác với những TPDN mới phát hành ở vùng lãi suất hai chữ số, nên tỷ trọng thanh khoản cũng ảnh hưởng đến kết quả chung của quỹ.Quy mô tài sản của nhóm quỹ cũng tập trung mạnh. Tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của 24 quỹ đạt khoảng 11.027 tỷ đồng, trong đó 10 quỹ lớn nhất nắm 9.819 tỷ đồng, tương đương 89%. Riêng TCBF đạt gần 4.596 tỷ đồng, chiếm 41,7% tổng NAV.Hình 4: 10 quỹ lớn nhất nắm 89% NAV toàn nhómKhoảng cách giữa lãi suất hai chữ số của một số khoản phát hành mới và mức sinh lời 4–6% của phần lớn quỹ phản ánh thời gian để những khoản đầu tư cũ đáo hạn hoặc được thay thế. Với những quỹ có lượng vốn rút lớn, nhu cầu duy trì thanh khoản còn khiến mặt bằng lãi suất mới phản ánh vào kết quả đầu tư chậm hơn.