Lãi suất neo cao, ngành nào chịu áp lực lớn?


Chia sẻ với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, TS Hồ Sỹ Hòa, Giám đốc nghiên cứu và tư vấn đầu tư tại Công ty Cổ phần Chứng khoán DNSE, cho hay bức tranh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết sẽ kém thuận lợi hơn trong những tháng cuối năm 2026.
Theo ông Hòa, lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết trong 6 tháng đầu năm tăng hơn 48% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng được dự báo giảm xuống khoảng 21% - 22% trong quý III và tiếp tục hạ về khoảng 20% trong quý IV. Tính chung cả năm 2026, tăng trưởng lợi nhuận có thể đạt khoảng 32% - 33%.
Lý giải xu hướng này, đại diện DNSE chỉ ra rằng dù các chỉ số kinh tế vĩ mô trong quý III ghi nhận mức tăng trưởng cao, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với áp lực lớn từ mặt bằng lãi suất và chi phí vốn.
Theo ông Hòa, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) bất ngờ nâng lãi suất trở lại, lạm phát gia tăng (bình quân 9 tháng tăng 4,52%) và cùng quy mô tín dụng/GDP ở mức cao (lên tới 145% vào năm 2025) đã thu hẹp đáng kể dư địa nới lỏng tiền tệ trong nước. Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất trong nước đã tăng và thiết lập một nền mới cao hơn. Lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng bình quân tăng từ 7,18% lên 8,62% so với năm 2025, tương ứng mức tăng 1,44 điểm phần trăm.
'Diễn biến này tác động trực tiếp đến bức tranh lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng sẽ có độ trễ nhất định. Do các khoản vay thả nổi thường mất từ 3 – 6 tháng để điều chỉnh lãi suất, áp lực chi phí tài chính mới chỉ phản ánh một phần trong quý III và sẽ bộc lộ rõ nét hơn từ quý IV/2026', ông Hòa nói.

Theo TS Hồ Sỹ Hoà, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao đang tạo lớn sức ép lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Biên lãi ròng (NIM, tính theo bình quân trượt 12 tháng) của ngành ngân hàng đã giảm từ mức 3,76% trong năm 2022 xuống còn 3% vào cuối quý II/2026. Trong khi đó, biên lợi nhuận gộp của nhóm doanh nghiệp phi tài chính cũng bắt đầu thu hẹp trong bối cảnh mặt bằng lãi suất neo cao.
'Với những doanh nghiệp có biên lợi nhuận mỏng hoặc dư nợ ngoại tệ lớn nhưng không có biện pháp phòng vệ tỷ giá, chi phí lãi vay tăng thêm 1 – 1,5 điểm phần trăm cũng có thể bào mòn đáng kể lợi nhuận. Với nhóm sử dụng đòn bẩy tài chính cao, khả năng duy trì hoạt động lúc này phụ thuộc vào chất lượng dòng tiền hơn là chỉ nhìn vào quy mô nợ vay', ông Hoà đánh giá.
Cũng theo đại diện DNSE, xu hướng tăng của lãi suất cũng như mặt bằng lãi suất cao có tác động đến các doanh nghiệp, nhưng mức độ tác động không đồng đều mà có phân hóa theo đặc thù dòng tiền của từng ngành.
'Chịu áp lực lớn nhất chắc chắn là nhóm bất động sản dân dụng, xây dựng hạ tầng và các ngành sản xuất thâm dụng vốn như thép hay vật liệu xây dựng', TS Hồ Sỹ Hoà nói.

Vị chuyên gia phân tích, với bất động sản, lãi suất cao tạo ra áp lực kép: vừa làm tăng chi phí vốn của chủ đầu tư khi chu kỳ dự án kéo dài, vừa khiến người mua nhà khó tiếp cận vốn vay hơn. Đáng chú ý, lãi suất vay mua nhà thả nổi có thể lên tới khoảng 16%, thậm chí gần 18%, làm gia tăng gánh nặng tài chính cho người vay và gây thêm sức ép lên thanh khoản thị trường.
Tương tự, các doanh nghiệp xây dựng có biên lợi nhuận mỏng nhưng bị đọng vốn kéo dài sẽ gặp khó khăn khi chi phí tài chính tăng. Các doanh nghiệp sản xuất quy mô nhỏ cũng đối mặt với nguy cơ suy giảm lợi nhuận nếu không đủ khả năng tăng giá bán để bù đắp chi phí đầu vào.
Ở chiều ngược lại, những ngành có lượng tiền mặt dồi dào và ít vay nợ như bảo hiểm, công nghệ, dược phẩm và cảng biển có khả năng chống chịu tốt hơn trước áp lực lãi suất, đồng thời có thể hưởng lợi từ việc lãi suất tiền gửi ngân hàng tăng lên.
Về triển vọng kinh doanh trong quý IV, nhóm bán lẻ và hàng tiêu dùng được kỳ vọng có dư địa tăng trưởng tích cực nhờ bước vào mùa cao điểm mua sắm cuối năm. Ngành ngân hàng cũng có thể duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận nhờ mở rộng quy mô tín dụng, dù NIM có thể thu hẹp nhẹ và phân hóa theo năng lực kiểm soát chi phí vốn của từng ngân hàng. Bên cạnh đó, cảng biển và hàng không vẫn được đánh giá có động lực tăng trưởng tốt.
Ngược lại, nguy cơ suy giảm lợi nhuận sẽ hiện hữu tại các doanh nghiệp bất động sản dân dụng thiếu dự án bàn giao, các công ty xây dựng có biên lợi nhuận mỏng nhưng bị đọng vốn lâu, hoặc những doanh nghiệp sản xuất nhỏ không thể tăng giá bán để bù đắp chi phí đầu vào.

Trong bối cảnh tăng trưởng lợi nhuận có thể giảm tốc và chi phí vốn gia tăng, TS Hồ Sỹ Hòa khuyến nghị nhà đầu tư không nên chỉ dựa vào tốc độ tăng trưởng lợi nhuận để lựa chọn cổ phiếu mà cần xem xét kỹ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cốt lõi, diễn biến biên lãi ròng và khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp.
'Các chỉ báo cần theo dõi là khả năng trả lãi vay từ lợi nhuận hoạt động (EBIT/chi phí lãi vay) và áp lực nợ gốc đến hạn trong 12 tháng tới. Đặc biệt, nhà đầu tư nên kiểm tra khoản tiền lãi đã trả. Thực tế có những doanh nghiệp ghi nhận chi phí lãi vay trên báo cáo kết quả kinh doanh rất thấp do đã hạch toán phần lãi đó vào giá trị dự án dở dang hay hàng tồn kho, nhưng dòng tiền thực tế vẫn bị rút ra đều đặn. Ngoài ra, biên lợi nhuận gộp và dòng tiền kinh doanh dương cũng là thước đo quan trọng để đánh giá nội lực doanh nghiệp', ông Hoà cho hay.

Cũng theo vị chuyên gia, xét đồng thời các yếu tố lợi nhuận, định giá và sức khỏe tài chính, trong quý IV/2026, nhà đầu tư có thể ưu tiên ba nhóm cổ phiếu.
Thứ nhất là nhóm ngân hàng quy mô lớn, đặc biệt là các ngân hàng quốc doanh. Với vai trò cung ứng vốn quan trọng cho nền kinh tế và tỷ trọng lớn trong rổ chỉ số, nhóm ngân hàng lớn có khả năng chống chịu tốt hơn trước những biến động của thị trường. Dù biên lãi ròng chịu sức ép thu hẹp, quy mô hoạt động và năng lực tài chính vẫn tạo điều kiện để các ngân hàng này chủ động hơn trong việc ứng phó với chi phí vốn gia tăng.
Thứ hai là nhóm doanh nghiệp có lượng tiền mặt ròng lớn, tiêu biểu trong các lĩnh vực bảo hiểm, công nghệ, cảng biển và hạ tầng hàng không. Theo số liệu được dẫn, tỷ lệ các khoản đầu tư sinh lãi trên tổng tài sản tại cuối quý II của các nhóm ngành cảng biển, cảng hàng không, công nghệ và bảo hiểm lần lượt ở mức 17%, 32% và 80%. Nhóm doanh nghiệp này ít chịu áp lực từ chi phí nợ vay, đồng thời có thể hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng và duy trì khả năng chi trả cổ tức tiền mặt ổn định.
Thứ ba là các doanh nghiệp đầu ngành trong lĩnh vực bán lẻ và sản xuất cơ bản, có bảng cân đối kế toán lành mạnh. Trong bối cảnh chi phí vốn tăng cao, nền tảng tài chính vững chắc giúp các doanh nghiệp này duy trì hoạt động, đồng thời tận dụng cơ hội mở rộng thị phần khi những đối thủ yếu hơn buộc phải thu hẹp quy mô.