Ngân hàng

Làn sóng mở rộng huy động vốn ngoại của ngân hàng Việt

Vietnamfinance
· 16/10/2026

Động lực sau làn sóng huy động vốn ngoại

Mới đây, ngân hàng SHB đã công bố Nghị quyết HĐQT thông qua phương án vay và sử dụng vốn với Ngân hàng Sumitomo Mitsui Banking Corporation Singapore Branch (SMBC) và 6 tổ chức tín dụng quốc tế khác. Theo đó, khoản vay do SMBC và các tổ chức tài chính khác cùng tham gia thu xếp có trị giá 340 triệu USD và có thể tăng thêm sau 3 năm xác lập thương vụ.

Ngày 15/10, lãnh đạo SHB cho biết, ngân hàng huy động thành công 290 triệu USD Singapore trái phiếu quốc tế. Lãi suất cho 100 triệu đầu tiên lãi suất 2,9% còn lại lãi suất 3,15%. Lượng trái phiếu này hiện đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán Singapore.

Không riêng SHB, nhiều ngân hàng Việt cũng đang đẩy mạnh huy động vốn quốc tế. HDBank hoàn tất khoản vay hợp vốn 721 triệu USD, cao hơn khoảng 60% so với kế hoạch ban đầu 450 triệu USD, do Standard Chartered và ADB đồng điều phối, nhằm bổ sung vốn cho doanh nghiệp SME và hoạt động tài chính bền vững. Trước đó, ngân hàng này đã huy động thêm 270 triệu USD vốn xanh và 380 triệu USD vốn tài chính bền vững từ IFC, ADB, JICA, SMBC cùng nhiều tổ chức khác.

Hay như MB cũng đã hoàn tất 550 triệu USD vay nước ngoài trong nửa đầu năm với sự tham gia của Standard Chartered, Wells Fargo, LBBW và OCBC, còn VPBank cuối tháng 6 ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững 1,44 tỷ USD cùng 15 định chế quốc tế.

Trong khi đó, Techcombank đang chờ cơ quan quản lý chấp thuận kế hoạch vay 1 tỷ USD, còn VIB đặt mục tiêu huy động 1 tỷ USD vốn trung và dài hạn, lớn nhất từ trước đến nay, và đã hoàn tất khoản vay hợp vốn 3 năm trị giá 285 triệu USD từ 9 định chế ở Singapore, Malaysia, Hồng Kông và Đài Loan. ACB hiện cũng đang có kế hoạch huy động một khoản vay nước ngoài trị giá khoảng 300 triệu USD.

Trong trao đổi với VietnamFinance, ông Võ Thành Long - Trưởng nhóm phân tích LTBNM, cho biết: 'Không chỉ các ngân hàng lớn như Techcombank, VPBank hay MB mà ngay cả các ngân hàng quy mô nhỏ hơn cũng đang có định hướng tìm kiếm nguồn vốn lớn từ các định chế tài chính nước ngoài'.

Theo ông, có hai lý do chính đứng sau làn sóng này. Đầu tiên là hoạt động huy động vốn trong nước đang gặp nhiều khó khăn khi tín dụng vẫn duy trì đà tăng trưởng.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ ra, tính đến ngày 28/09/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 10,89% trong khi tăng trưởng huy động ở mức 9,78%. Mặc dù chênh lệch tín dụng và huy động đã giảm xuống còn khoảng 1,2 triệu tỷ đồng nhờ giải ngân đầu tư công tăng tốc và mặt bằng lãi suất hấp dẫn song áp lực vẫn hiện hữu, buộc các ngân hàng gia tăng cạnh tranh lãi suất tiền gửi và đẩy mạnh phát hành TPDN kỳ hạn trung - dài hạn với chi phí cao.

'Mặt bằng lãi suất huy động ở một số ngân hàng đã tiến gần mức 10%, thậm chí có ngân hàng vượt 10%. Trong khi đó, nhu cầu tín dụng của nền kinh tế vẫn rất lớn, đặc biệt là nhu cầu vốn dành cho các dự án quy mô lớn dự kiến triển khai trong thời gian tới. Với nhu cầu vốn như vậy, nếu chỉ trông chờ vào nguồn huy động trong nước, các ngân hàng sẽ khó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu tín dụng. Việc tìm kiếm thêm các nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt là các khoản vay từ các định chế tài chính quốc tế, vì vậy, trở thành một hướng đi được nhiều ngân hàng lựa chọn', ông nói.

Lý do thứ hai, theo ông Long, là do những thay đổi liên quan đến cách tính tỷ lệ LDR theo Thông tư 50/2026 vừa được Ngân hàng Nhà nước ban hành.

Trong Thông tư 50/2026, một nội dung đáng chú ý là trong giai đoạn từ nay đến ngày 10/10/2028, trước khi áp dụng các công thức mới liên quan đến tỷ lệ bao phủ thanh khoản (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR), các ngân hàng vẫn tiếp tục áp dụng tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR), nhưng với một số thay đổi trong cách tính. Trong đó, thay đổi có tác động rất lớn là việc bổ sung nguồn vốn vay nước ngoài vào mẫu số của công thức tính LDR.

Theo các quy định trước đây, nguồn vốn vay nước ngoài không được tính vào mẫu số của tỷ lệ này. Do đó, mặc dù nhiều ngân hàng có khả năng huy động vốn quốc tế, thậm chí tiếp cận được những nguồn vốn có chi phí thấp hơn so với trong nước, động lực để đẩy mạnh hoạt động vay vốn nước ngoài vẫn có những hạn chế nhất định.

Tuy nhiên, với Thông tư 50, nguồn vốn vay nước ngoài đã được đưa vào phạm vi tính toán LDR. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng. Khi nguồn vốn vay nước ngoài được tính vào mẫu số, những ngân hàng đang có hoặc có khả năng huy động tốt các khoản vay từ nước ngoài có thể cải thiện tỷ lệ LDR. Nói cách khác, với cùng một quy mô dư nợ cho vay, việc mở rộng nguồn vốn được tính vào mẫu số có thể giúp tỷ lệ LDR giảm xuống. Từ đó, ngân hàng có thêm dư địa để tiếp tục giải ngân cho vay mà vẫn bảo đảm các giới hạn theo quy định.

'Từ nay đến tháng 10/2028, việc được tính bổ sung nguồn vốn vay nước ngoài vào công thức LDR có thể tạo ra lợi thế đáng kể cho các ngân hàng có khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Chính vì vậy, việc hàng loạt ngân hàng thương mại đồng loạt đặt mục tiêu huy động những khoản vốn lớn từ nước ngoài trong thời gian gần đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên', ông Long nói.

Cơ hội không chia đều cho tất cả

Tuy nhiên, trong bức tranh chung đó, ông Long cho rằng, khả năng tận dụng cơ hội này sẽ không giống nhau giữa các ngân hàng. Các ngân hàng lớn sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí hợp lý. Những ngân hàng có quy mô tài sản lớn, năng lực tài chính tốt và khả năng tiếp cận các định chế tài chính quốc tế sẽ có điều kiện đàm phán để huy động được nguồn vốn lớn hơn với mức lãi suất tốt hơn. Ngược lại, đối với những ngân hàng nhỏ, việc tiếp cận các khoản vay quốc tế quy mô lớn và đạt được mức chi phí vốn cạnh tranh có thể gặp nhiều khó khăn hơn.

Ngoài ra, trong danh sách các thương vụ huy động vốn nước ngoài hiện nay vẫn chưa thấy sự xuất hiện nhiều của nhóm bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn. Tuy nhiên, trong thời gian tới, có thể sẽ xuất hiện thêm những thương vụ huy động vốn quốc tế quy mô lớn từ nhóm ngân hàng này.

Một vấn đề khác cũng cần được xem xét là chi phí huy động vốn nước ngoài ở thời điểm hiện tại.

Theo ông Long, việc vay vốn quốc tế hiện nay có thể không còn mang lại lợi thế quá lớn về chi phí như trước. Nguyên nhân là lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ cũng như lợi suất trái phiếu của nhiều quốc gia khác đang có xu hướng tăng mạnh, lên những mức cao nhất trong nhiều thập kỷ.

Chẳng hạn như lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã vượt mức 5,2%. Bên cạnh đó, thông qua một số thương vụ phát hành trái phiếu cho các tổ chức lớn gần đây, thị trường cũng ghi nhận mức lãi suất huy động bằng USD tiệm cận 10%. Điều này cho thấy chi phí huy động vốn bằng ngoại tệ có thể đang ở mức tương đối cao.

Ngoài yếu tố lãi suất, vay vốn nước ngoài còn đi kèm một rủi ro rất đáng lưu ý, đó là rủi ro tỷ giá. Đối với các khoản vay bằng ngoại tệ, biến động tỷ giá có thể ảnh hưởng đáng kể đến chi phí vốn thực tế của ngân hàng. Xét trong dài hạn, đồng Việt Nam có xu hướng mất giá so với USD. Đây là yếu tố mà các ngân hàng cần đặc biệt cân nhắc khi quyết định vay vốn bằng ngoại tệ.

'Nếu lãi suất vay vốn nước ngoài đã ở mức cao, đồng thời ngân hàng còn phải chịu thêm chi phí phát sinh từ biến động tỷ giá, tổng chi phí huy động vốn có thể tăng lên đáng kể. Do đó, dù việc vay vốn bằng USD có thể mang lại lợi ích lớn về mặt chỉ tiêu LDR, điều quan trọng là ngân hàng phải tiếp cận được nguồn vốn với mức chi phí hợp lý. Nguồn vốn vay cần có lãi suất đủ hấp dẫn, đồng thời phải tính toán đầy đủ những yếu tố bất lợi có thể phát sinh từ biến động tỷ giá. Ngược lại, nếu ngân hàng vay ngoại tệ với mức lãi suất tương đương, thậm chí cao hơn lãi suất huy động bằng VND, trong khi vẫn phải gánh chịu thêm rủi ro tỷ giá, thì đây có thể trở thành một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh trong tương lai', ông Long nhận định.