Tin tức thị trường

Lao động Việt trả trung bình 125,7 triệu đồng để đi làm ở nước ngoài, hơn 50% phải vay

Vietnamfinance
· 8 giờ trước
Lao động Việt trả trung bình 125,7 triệu đồng để đi làm ở nước ngoài, hơn 50% phải vayHoàng Phan-08/09/2026 19:40 (GMT+7)(VNF) - Hơn một nửa số tiền người lao động bỏ ra vẫn nằm ở khâu tuyển dụng, môi giới và có tới 53,9% người được khảo sát phải vay tiền để trang trải chi phí trước khi xuất cảnh.TIN LIÊN QUANTăng trưởng hai con số: Việt Nam không thể mãi trông vào 'động lực ngoại'08/09/2026 07:30Theo Báo cáo phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài – Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1 do Cục Thống kê công bố ngày 8/9, mộtlao độngViệt Nam hiện phải chi bình quân khoảng 125,7 triệu đồng để có việc làm ở nước ngoài. Trong khi đó, thu nhập bình quân tháng đầu tiên đạt 28,1 triệu đồng.Chi phí giảm nhưng môi giới và tuyển dụng vẫn ngốn hơn nửaĐiều tra lao động và việc làm năm 2025 cho thấy khoảng 412.000 lao động Việt Nam đã đi làm việc ở nước ngoài trong vòng ba năm trước thời điểm điều tra. Lực lượng này tương đối trẻ, với tuổi trung vị 27. 84,6% xuất thân từ khu vực nông thôn và 79,6% có trình độ từ trung học phổ thông trở lên.Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc tiếp tục là ba thị trường lớn nhất, chiếm 76,7% tổng số lao động. Nhật Bản đứng đầu với 42,2%, tiếp theo là Đài Loan 20,1% và Hàn Quốc 14,5%.So với năm 2021, một thay đổi đáng chú ý là tỷ lệ lao động nữ tăng từ 31,4% lên 41%. Địa bàn xuất cư cũng trở nên đa dạng hơn khi tỷ trọng lao động đến từ Trung du và miền núi phía Bắc cùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng từ 12,3% lên 23%.Chi phí để tham gia thị trường lao động quốc tế đã giảm đáng kể. Năm 2021, một lao động phải chi bình quân 164,9 triệu đồng để đi làm việc ở nước ngoài. Đến năm 2025, con số này còn 125,7 triệu đồng, tương đương giảm 23,8%. Trong cùng thời gian, thu nhập tháng đầu tiên tăng từ 22,4 triệu đồng lên 28,1 triệu đồng, tương ứng tăng 25,4%.Nhờ chi phí giảm trong khi thu nhập tăng, RCI (chỉ số chi phí do lao động Việt Nam chi trả) giảm mạnh từ 7,4 xuống 4,5. Đây là sự cải thiện đáng kể về khả năng "hoàn vốn" đối với người lao động.Tuy nhiên, gánh nặng không phân bổ đồng đều. Lao động nam phải chi bình quân 133,8 triệu đồng, cao hơn mức 114 triệu đồng của nữ. RCI tương ứng là 4,9 và 4,0. Lao động nông thôn cũng chịu chi phí 128,9 triệu đồng, cao hơn mức 107,8 triệu đồng của lao động thành thị.Nhóm tuổi 15-24 chịu chi phí cao nhất, khoảng 142,9 triệu đồng và có RCI lên tới 5,7. Nhóm 25-39 tuổi có mức chi thấp hơn, 117,3 triệu đồng và RCI 3,9.Sự chênh lệch còn rõ hơn khi xét theo trình độ kỹ năng nghề nghiệp. Lao động kỹ năng cao chỉ phải chi bình quân 67,8 triệu đồng, với RCI khoảng 1,3. Trong khi đó, nhóm kỹ năng trung bình phải chi tới 143,2 triệu đồng, RCI 5,4. Nhóm kỹ năng thấp chi 109,1 triệu đồng, RCI 4,5.Nhật Bản có chi phí bình quân cao nhất trong ba điểm đến lớn, khoảng 140,8 triệu đồng, tiếp đến là Hàn Quốc với 139,4 triệu đồng và Đài Loan 130,2 triệu đồng.Nếu xét theo số tháng thu nhập cần để bù đắp chi phí, Đài Loan đứng đầu với RCI là 6, cao hơn Nhật Bản 5,3 và Hàn Quốc là 5. Nguyên nhân nằm ở chênh lệch tiền lương. Thu nhập tháng đầu tiên tại Đài Loan chỉ khoảng 21,6 triệu đồng, thấp hơn mức 26,5 triệu đồng tại Nhật Bản và 28,8 triệu đồng tại Hàn Quốc.Chênh lệch lớn nhất xuất hiện ở phương thức tìm việc. Người lao động tìm việc thông qua người thân, họ hàng hoặc bạn bè chỉ phải chi bình quân khoảng 57,8 triệu đồng, với RCI 2,1. Ngược lại, đi qua cá nhân hoặc môi giới khiến chi phí tăng lên 161,1 triệu đồng và RCI lên tới 6,6.Tìm việc qua doanh nghiệp tuyển dụng tư nhân có RCI 5,8, còn qua tổ chức Nhà nước ở mức 5,7. Báo cáo vì vậy cho thấy cách người lao động tiếp cận công việc có thể ảnh hưởng rất lớn tới số tiền phải bỏ ra trước khi xuất cảnh.Theo khảo sát chuyên sâu, 52,8% tổng chi phí di cư là khoản trả cho tổ chức tuyển dụng hoặc cá nhân môi giới. Chi phí đào tạo và chuẩn bị giấy tờ chiếm 33,7%, đi lại 11,1%, còn các khoản khác khoảng 2,3%. Như vậy, dù tổng chi phí đã giảm đáng kể so với bốn năm trước, hơn một nửa số tiền người lao động bỏ ra vẫn tập trung ở khâu kết nối họ với công việc.Thống kê RCI của nghiên cứu. Ảnh: Tổng cục Thống kê53,9% lao động phải vay tiền, bài toán tài chính chưa kết thúc khi về nướcKhảo sát chuyên sâu về người lao động di cư năm 2025 cho thấy quá trình chuẩn bị trước khi khởi hành kéo dài trung bình khoảng 6 tháng.53,9% người lao động được khảo sát phải vay tiền để trang trải chi phí di cư, với khoản vay bình quân 121,9 triệu đồng. Trong số người đi vay, 55,4% cho biết khoản vay tương đương trên 70% tổng chi phí cho hành trình ra nước ngoài làm việc. Với không ít lao động, quyết định ra nước ngoài làm việc đồng thời là quyết định bước vào một khoản nợ lớn ngay từ đầu.Rủi ro càng rõ nét đối với những trường hợp công việc bị gián đoạn, hợp đồng kết thúc sớm hoặc phải hồi hương ngoài kế hoạch. Sau khi về nước, 8,7% người được khảo sát vẫn chưa trả hết nợ. Tỷ lệ này tại Đài Loan là 12,4%, còn ở nhóm lao động trở về từ các quốc gia ngoài châu Á lên tới 26,8%.Chi phí cũng chưa chấm dứt ở thời điểm hồi hương. Có 63,9% người lao động tự thanh toán tiền để trở về nước, với mức bình quân khoảng 12,7 triệu đồng.Trong thời gian làm việc ở nước ngoài, 18,5% người được khảo sát cho biết từng gặp ít nhất một khó khăn. Áp lực hoặc căng thẳng công việc là vấn đề phổ biến nhất, với tỷ lệ 12,6%; 3,6% gặp môi trường làm việc độc hại và 3,1% từng trải qua phân biệt đối xử hoặc thiếu tôn trọng.Có 65,4% người lao động cho biết muốn nhận thêm thông tin về hợp đồng, lương, giờ làm, quyền lợi và nghĩa vụ. 65,3% quan tâm tới điều kiện sống và 62,1% muốn có thêm thông tin về an toàn, sức khỏe tại nơi làm việc.Sau khi hồi hương, chỉ 65% đang có việc làm tại thời điểm khảo sát. Dù 90,9% cho biết đã nhận được một hình thức hỗ trợ về việc làm, chủ yếu từ doanh nghiệp tuyển dụng, chỉ 34,4% đánh giá những hỗ trợ này thực sự rất hữu ích. 24,2% cho rằng khó áp dụng vào thực tế.Hiệu quả của lao động di cư không thể chỉ được đo bằng số người xuất cảnh hay lượng ngoại tệ gửi về nước. Theo báo cáo, lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài mỗi năm gửi về khoảng 6,5-7 tỷ USD, tạo nguồn ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế. Bài toán thực tế nằm ở việc phải bỏ bao nhiêu vốn để có một công việc, vay bao nhiêu tiền, mất bao lâu để thu hồi khoản đầu tư ban đầu và liệu kỹ năng tích lũy ở nước ngoài có được chuyển hóa thành công việc tốt hơn sau khi trở về.Việc RCI giảm từ 7,4 xuống 4,5 là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, mức chi bình quân 125,7 triệu đồng, tỷ lệ 53,9% phải vay tiền và việc hơn nửa chi phí vẫn dành cho khâu tuyển dụng cho thấy dư địa giảm gánh nặng tài chính vẫn còn lớn.Cục Thống kê đề xuất tiếp tục minh bạch hóa các khoản thu, kiểm soát chi phí không chính thức và môi giới trái phép, mở rộng tín dụng chính thức, nâng cao kỹ năng và ngoại ngữ của người lao động. Đồng thời, chính sách cần chuyển dần trọng tâm từ mở rộng số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài sang chất lượng việc làm, thu nhập và khả năng phát triển nghề nghiệp, cũng như nâng hiệu quả hỗ trợ tái hòa nhập sau hồi hương.Các số liệu về cơ cấu chi phí, vay nợ, khó khăn và hồi hương được lấy từ khảo sát 3.596 người tại sáu tỉnh, thành phố theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất. Báo cáo nêu rõ kết quả phần khảo sát chuyên sâu này không đại diện cho toàn bộ lao động Việt Nam di cư quốc tế.Tăng trưởng hai con số: Việt Nam không thể mãi trông vào 'động lực ngoại'Tăng trưởng hai con số: Việt Nam không thể mãi trông vào 'động lực ngoại'Tiêu điểm(VNF) - Tăng trưởng cao và bền vững không thể chỉ dựa vào những động lực bên ngoài mà cần được xây dựng từ năng suất lao động và sức mạnh của khu vực doanh nghiệp trong nước. TS Phạm Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần những chính sách vi mô đột phá để giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và giảm chi phí tuân thủ.