Vĩ mô Việt Nam

Lý do khiến mức hưởng trợ cấp thất nghiệp thấp hơn thu nhập thực tế

Vneconomy
· 13/04/2026
Thu nhập thực tế của người lao động không thấp, nhưng mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thấp hơn, dẫn đến mức hưởng trợ cấp thất nghiệp dù được tính bằng 60% vẫn thấp hơn so với thu nhập thực tế mà người lao động nhận được, theo đại diện Cục Việc làm (Bộ Nội vụ)...

Luật Việc làm 2025 và Nghị định hướng dẫn tiếp tục kế thừa nguyên tắc cơ bản là mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp.

THU NHẬP THỰC TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO HƠN TIỀN LƯƠNG ĐÓNG BẢO HIỂM

Theo ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp (Cục Việc làm), mức hưởng 60% được xác định là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định, giúp người lao động duy trì cuộc sống khi mất việc và chưa có thu nhập.

Ông Tú thông tin, theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và thông lệ quốc tế, mức trợ cấp nên tối thiểu 50% tiền lương. Việt Nam quy định mức 60% là cao hơn ngưỡng khuyến nghị này.

Tuy nhiên trên thực tế, một số người lao động cho rằng mức hưởng còn thấp, nguyên nhân là do tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thường thấp hơn thu nhập thực tế. Hiện nay, mức đóng chủ yếu dựa trên tiền lương theo hợp đồng, chưa phản ánh đầy đủ thu nhập.

'Thực tế, thu nhập của người lao động hiện nay thường cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm. Trong doanh nghiệp, ngoài tiền lương theo hợp đồng, còn có nhiều khoản thu nhập khác, nhưng chưa được tính vào nền tiền lương đóng bảo hiểm. Nguyên nhân là nếu tính đầy đủ, người sử dụng lao động sẽ phải tăng nghĩa vụ đóng, nên có xu hướng giữ mức đóng ở mức tối thiểu', ông Tú lý giải.

Vì vậy, dù thu nhập thực tế của người lao động không thấp, nhưng mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm lại thấp hơn. Điều này dẫn đến việc mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, dù được tính bằng 60%, vẫn thấp hơn so với thu nhập thực tế mà người lao động nhận được.

'Ví dụ, một người lao động có mức đóng bảo hiểm trên nền lương khoảng 6 triệu đồng, trong khi thu nhập thực tế có thể đạt khoảng 10 triệu đồng, đặc biệt trong các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày. Khi đó, 60% của mức đóng sẽ thấp hơn đáng kể so với 60% thu nhập thực tế', ông Tú dẫn chứng.

Từ thực tiễn đó, ông Tú cho biết trong thời gian tới, định hướng là tiến tới đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên cơ sở thu nhập, qua đó làm cơ sở để nâng mức hưởng và đảm bảo quyền lợi sát hơn với thực tế của người lao động.

Còn việc quy định tỷ lệ 60% không quá cao nhằm đảm bảo cân bằng giữa việc hỗ trợ và duy trì động lực làm việc, đồng thời phù hợp với nguyên tắc chia sẻ của bảo hiểm thất nghiệp.

Theo đại diện Cục Việc làm, thực tế, trong quá trình xây dựng chính sách, đã có nhiều ý kiến đề xuất nâng tỷ lệ hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, mức 60% được giữ lại vì có ý nghĩa riêng.

Bởi đây là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định, không phải là khoản bù đắp toàn bộ thu nhập. Nếu mức hưởng quá cao, chẳng hạn 70% hoặc 80%, sẽ làm giảm động lực quay trở lại làm việc của người lao động. Vì vậy, mức 60% được tính toán trên cơ sở cân đối quỹ, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời vẫn đảm bảo hỗ trợ cần thiết.

Bản chất của trợ cấp thất nghiệp là sự chia sẻ giữa những người tham gia quỹ. Người hưởng không chỉ nhận từ phần đóng của mình, mà còn từ sự đóng góp của nhiều người khác, thể hiện tính nhân văn của chính sách.

LINH HOẠT HƠN VỀ ĐIỀU KIỆN HƯỞNG

Cũng liên quan đến mức hưởng, Luật mới cũng làm rõ hơn một số nội dung quan trọng. Theo quy định trước đây của Luật Việc làm năm 2013, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính trên cơ sở bình quân tiền lương của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

Linh hoạt hơn trong điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Ảnh: N.D. 
Linh hoạt hơn trong điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Ảnh: N.D. 

Tuy nhiên, theo ông Trần Tuấn Tú, khái niệm 'liền kề' trong quy định mới được thiết kế khá linh hoạt, mang tính nhân văn, phù hợp với thực tiễn của người lao động. Về nguyên tắc, đối với các loại bảo hiểm ngắn hạn, việc đóng thường phải liên tục cho đến thời điểm xảy ra rủi ro.

Nhưng với bảo hiểm thất nghiệp, ngoài tính chất ngắn hạn, còn có yếu tố dài hạn. Nghĩa là toàn bộ thời gian đã đóng nhưng chưa hưởng vẫn được bảo lưu, kể cả khi có gián đoạn trong quá trình làm việc.

Thực tế, pháp luật lao động cho phép người lao động có thể tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ thai sản, nghỉ ốm đau, nghỉ không lương hoặc ngừng việc… Những khoảng thời gian này không phát sinh đóng bảo hiểm thất nghiệp, dẫn đến việc quá trình tham gia có thể bị gián đoạn.

Chính vì vậy, dù quy định là 6 tháng liền kề, nhưng việc áp dụng vẫn có sự linh hoạt nhất định, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong những trường hợp có gián đoạn hợp lý trong quá trình tham gia.

'Về nguyên tắc, khi có gián đoạn trong quá trình tham gia thì thông thường sẽ không được hưởng. Tuy nhiên, với bảo hiểm thất nghiệp, do tính nhân văn của chính sách, những khoảng thời gian người lao động không đóng nhưng được pháp luật cho phép, như tạm hoãn hợp đồng, nghỉ thai sản, nghỉ không lương…, vẫn được xem xét trong quá trình tham gia', ông Trần Tuấn Tú lý giải.

Chính vì vậy, nếu chỉ tính '6 tháng liền kề' theo nghĩa cứng, không có gián đoạn, thì sẽ không phù hợp với thực tiễn. Do đó, quy định mới được điều chỉnh theo hướng chặt chẽ hơn nhưng cũng linh hoạt hơn: xác định 6 tháng cuối cùng có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động, không phụ thuộc vào việc có gián đoạn hay không.

Cách tiếp cận này vừa đảm bảo nguyên tắc đóng - hưởng, vừa phù hợp với thực tế quá trình làm việc của người lao động.

-Nhật Dương

]]>