Ngân hàng

Ngân hàng đổ vốn cho hạ tầng: Giới hạn an toàn và đến lúc cần 'chia lại vai'?

Vietnamfinance
· 9 giờ trước
Ngân hàng đổ vốn cho hạ tầng: Giới hạn an toàn và đến lúc cần 'chia lại vai'?Nam Anh-03/09/2026 09:30 (GMT+7)(VNF) - Tín dụng ngân hàng đang đổ mạnh vào các dự án hạ tầng nhờ hàng loạt cơ chế nới room và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để đảm bảo an toàn hệ thống, cần cấu trúc lại nguồn vốn theo hướng đa tầng mà ở đó ngân hàng chỉ đóng vai trò vốn mồi.Ngân hàng tăng cấp vốn cho các dự án hạ tầngTheo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong nửa đầu năm 2026, tín dụng dành cho lĩnh vực xây dựng ghi nhận tăng trưởng đáng kể khi loạt ngân hàng đẩy mạnh giải ngân cho các dự án hạ tầng.Cụ thể, tính đến hết tháng 6/2026, dư nợ tín dụng của ngành xây dựng đạt 1,49 triệu tỷ đồng, tăng 6,36% so với đầu năm. Cùng kỳ, dư nợ tín dụng của ngành công nghiệp cũng tăng 9,93% so với đầu năm, lên 3,24 triệu tỷ đồng.Diễn biến này cũng được thể hiện rõ tại nhiều ngân hàng TMCP trong nửa đầu năm. Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng tín dụng xây dựng là Techcombank với dư nợ tăng thêm 14.860 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 56,3%. Hay như VIB, dư nợ cho mảng xây dựng của ngân hàng này trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng 41,86%, tăng hơn 2.757 tỷ đồng.Xu hướng mở rộng tín dụng xây dựng cũng diễn ra tại những ngân hàng khác như Kienlong Bank, LPBank và HDBank với mức tăng trưởng lần lượt là 28,2%, 17,84% và 23,83%.Ngân hàng đẩy mạnh cho vay các dự án hạ tầng.Đà tăng của tín dụng xây dựng diễn ra trong bối cảnh ngành ngân hàng được định hướng ưu tiên vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm. Theo giới phân tích, việc NHNN tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng cấp vốn cho các dự án lớn, trong đó có 18 dự án hạ tầng trọng điểm cũng như điều chỉnh tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% đã góp phần mở rộng dư địa cấp tín dụng cho các dự án hạ tầng và các lĩnh vực ưu tiên.Giới phân tích cho rằng đà tăng này chưa dừng lại, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang đồng loạt tiến hành một khối lượng khổng lồ các dự án hạ tầng trọng điểm (mạng lưới đường cao tốc Bắc - Nam, sân bay quốc tế, các dự án điện và chuyển đổi năng lượng tái tạo, logistics...) để hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.Theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp Techcombank, động lực tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm chủ yếu đến từ các khoản giải ngân cho dự án hạ tầng và nhà ở xã hội và ngân hàng sẽ tiếp tục ưu tiên giải ngân cho các dự án hạ tầng có hiệu quả nhằm duy trì đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm.Các chuyên gia VPBankS dự báo tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm 2026 có thể đạt khoảng 16,5%, cao hơn mục tiêu định hướng 15% của NHNN, trong đó cơ chế loại trừ hạn mức tín dụng đối với 18 dự án trọng điểm được xem là một trong những yếu tố hỗ trợ chính cho phần vượt mục tiêu này.Giới hạn nào cho các ngân hàng?Trong một sự kiện mới đây, ông Jeffrey Lee, Phó Chủ tịch Cấp cao - Chiến lược & Quản lý Kinh doanh, Ban Quản lý Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Moody’s Ratings cho hay, lộ trình phát triển hạ tầng của Việt Nam nhìn chung có nhiều điểm tương đồng với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương khi ở giai đoạn đầu, phát triển cơ sở hạ tầng thường phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và nguồn vốn ngân hàng.Tuy nhiên, vị chuyên gia này cho rằng, tốc độ và quy mô các dự án hạ tầng tại Việt Nam hiện nay đã vượt quá khả năng hấp thụ rủi ro trên bảng cân đối kế toán của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh quy mô, rủi ro chênh lệch kỳ hạn cũng là một thách thức trọng yếu.Ở góc độ vĩ mô, ông Jeffrey Lee nhận định một quốc gia cần tránh rủi ro tập trung. “Nếu nhìn vào xếp hạng tín nhiệm của chúng tôi đối với các ngân hàng, các ngân hàng đang được hưởng lợi từ nhiều sự hỗ trợ của chính phủ. Khi xảy ra rủi ro vỡ nợ, chính phủ sẽ can thiệp nhằm giảm thiểu tổn thất dự kiến cho các chủ nợ. Hệ quả là mọi rủi ro trên bảng cân đối kế toán của hệ thống ngân hàng bị chuyển hóa thành một khoản nợ tiềm tàng đặt lên vai Nhà nước.Do đó, để đảm bảo an toàn tài chính quốc gia và giảm áp lực cho ngân sách, chiến lược tất yếu là phải chủ động đa dạng hóa kênh huy động, phân tán rủi ro sang các nhà đầu tư nước ngoài và các định chế tài trợ vốn thay thế”, đại diện Moody’s Ratings cho hay.Nguồn vốn cho phát triển hạ tầng phải được cấu trúc theo hướng đa tầng.Theo ông Jeffrey Lee, với việc kinh tế tăng trưởng tốt, tầng lớp trung lưu gia tăng và lượng tiền tiết kiệm của người dân ngày càng lớn, Việt Nam có tiềm năng rất lớn để khai thác nguồn vốn từ các tổ chức tài chính hay quỹ đầu tư.Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên cao cấp - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) cho rằng, ngân hàng vận hành dựa trên tiền gửi - nguồn vốn ngắn hạn - trong khi vòng đời của các dự án hạ tầng, dự án trọng điểm kéo dài 10 - 30 năm. Do đó việc dùng vốn ngắn hạn tài trợ cho các khoản vay dài hạn sẽ chuyển hóa thành rủi ro thanh khoản và rủi ro kỳ hạn nằm ngay trong bảng cân đối của ngân hàng.“Nguồn vốn phải được cấu trúc theo hướng đa tầng, mà ở đó ngân hàng nên tập trung vào vai trò vốn cầu nối, vốn xây dựng trong giai đoạn đầu, tài trợ hợp vốn và các khoản tín dụng có dòng tiền trả nợ tương đối rõ. Còn lại, phần vốn dài hạn phải được huy động từ trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án, quỹ đầu tư hạ tầng, bảo hiểm, quỹ hưu trí, nhà đầu tư tổ chức, PPP và nguồn vốn quốc tế”, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân nói.Ở góc độ của quỹ đầu tư, ông Nguyễn Đức Hải, Giám đốc Khối Đầu tư Công cụ thu nhập cố định, Manulife Investment Management đề xuất mô hình phân chia vai trò rõ rệt giữa ngân hàng và bảo hiểm theo hai giai đoạn phát triển của dự án hạ tầng.Cụ thể, ở giai đoạn đầu, ngân hàng thương mại là bên phù hợp nhất để gánh vác giai đoạn này do các ngân hàng trong nước có đầy đủ năng lực, công cụ và cơ chế để kiểm soát rủi ro xây dựng trực tiếp, ví dụ như giải ngân từng phần, quản lý dòng tiền qua tài khoản chuyên biệt, và đảm bảo tiền được giải ngân đúng người đúng chỗ.Khi dự án hạ tầng đã hoàn thành xây dựng, đi vào vận hành ổn định và bắt đầu có dòng doanh thu/lợi nhuận thực tế sau một vài năm, mức độ rủi ro sẽ giảm đi đáng kể. Lúc này, các quỹ bảo hiểm hoàn toàn có khả năng và sẵn sàng nhảy vào đầu tư. Họ có thể cung cấp nguồn vốn dài hạn với mức lãi suất rất cạnh tranh so với ngân hàng để chủ đầu tư phát hành trái phiếu tái tài trợ, ông Hải cho hay.