NIM ngày càng mỏng, áp lực buộc ngân hàng phải chuyển hướng

NIM ngân hàng chịu áp lực giảm
Báo cáo ngành ngân hàng mới đây của Công ty Chứng khoán MBS chỉ ra, trong quý III/2026, mặt bằng NIM chung được dự báo tiếp tục bị kéo xuống bởi mặt bằng lãi suất huy động cao, đặc biệt ở các ngân hàng có tăng trưởng tín dụng nhanh hoặc phụ thuộc nhiều vào huy động kỳ hạn.
Mức giảm NIM so với cùng kỳ vì vậy khá sâu ở nhiều ngân hàng, chẳng hạn như Sacombank được dự báo giảm 123 điểm cơ bản xuống 2,7%, Eximbank giảm 32 điểm cơ bản xuống 2,0% khi chi phí vốn tăng 270 điểm cơ bản, TPBank giảm 31 điểm cơ bản xuống khoảng 2,9%, VPBank giảm 29 điểm cơ bản, Techcombank giảm 17 điểm cơ bản xuống 3,7%, VIB giảm 13 điểm cơ bản xuống 3,0%.
SSI Research dự báo NIM toàn ngành ngân hàng sẽ giảm 2 điểm cơ bản, xuống 3,11% trong năm 2027. Trong đó, một số ngân hàng cổ phần có hạn mức tăng trưởng tín dụng lớn như MB, VPBank và HDBank phải chịu áp lực NIM giảm lớn hơn khi phải duy trì mặt bằng lãi suất huy động cao để đáp ứng nhu cầu vốn. Các ngân hàng quy mô nhỏ hơn cũng chịu áp lực tương tự khi phải trả lãi suất cao để giữ chân khách hàng.

Trong trao đổi với Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Lê Hoài Ân, chuyên gia ngân hàng, nhận định NIM trong quý III, quý IV của năm 2026 và năm 2027 vẫn tiếp tục chịu áp lực từ nhiều phía.
Nguyên nhân đầu tiên đến từ việc tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tăng trưởng huy động. Tính đến 28/9/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 10,89% trong khi tăng trưởng huy động đạt 9,78%. Mặc dù khoảng cách giữa tín dụng và huy động đã thu hẹp đáng kể song thanh khoản hệ thống vẫn chịu áp lực, buộc các ngân hàng phải cạnh tranh thu hút tiền gửi và đẩy chi phí vốn lên cao.
Trong khi đó, khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay lại bị hạn chế bởi cạnh tranh và yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Mới đây nhất, ngay sau chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng tập trung mọi nguồn lực, tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và triển khai các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để giảm mặt bằng lãi suất. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất cho vay khách hàng, trong đó tập trung giảm từ 1,5% -2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.
Ông Ân nhận định chi phí vốn tăng nhanh hơn tốc độ điều chỉnh của lãi suất cho vay đã bào mỏng biên lợi nhuận của toàn ngành. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ các khoản vay trung, dài hạn còn tạo ra rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tái định giá lãi suất, kéo theo khi chi phí huy động điều chỉnh nhanh hơn lợi suất tài sản, NIM sẽ bị thu hẹp.
Một yếu tố quan trọng khác là sự chuyển dịch cơ cấu tín dụng. Trong những năm gần đây, động lực tăng trưởng tín dụng đang dịch chuyển từ cho vay bán lẻ sang cho vay doanh nghiệp và các dự án đầu tư quy mô lớn.
'Đặc điểm của nhóm khách hàng này là quy mô khoản vay lớn nhưng biên lợi nhuận thường thấp hơn cho vay bán lẻ, do sức mạnh thương lượng của khách hàng và mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng. Khi tỷ trọng những khoản vay này gia tăng, NIM toàn hệ thống có thể tiếp tục chịu sức ép về mặt cấu trúc', ông Lê Hoài Ân nói.
Dẫn số liệu cụ thể, bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và Chiến lược thị trường Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho biết chi phí huy động vốn bình quân của ngân hàng tăng khoảng 1% (100 điểm cơ bản), nhưng lợi suất thu về từ tài sản sinh lãi chỉ tăng khoảng 0,7% (70 điểm cơ bản) dẫn đến NIM bị bào mòn.
Ngoài ra, cấu trúc tiền gửi huy động của các ngân hàng tập trung tới 70% ở kỳ hạn ngắn (3 – 6 tháng) khiến chi phí trả lãi cho người gửi tiền tăng lên rất nhanh khi lãi suất đi lên. Ngược lại, các khoản cho vay chiếm tỷ trọng lớn ở trung và dài hạn (40% – 50%) có tần suất điều chỉnh lãi suất chậm hơn, khiến thu nhập lãi chưa tăng kịp thời.
Ngân hàng tìm hướng đi bền vững
Ông Lê Hoài Ân cho rằng nếu nhìn ra thị trường quốc tế, NIM tại Việt Nam vẫn cao hơn đáng kể so với các hệ thống ngân hàng như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản. Chẳng hạn, NIM ngân hàng Trung Quốc chỉ khoảng 1,4%, thấp hơn nhiều so với mặt bằng tại Việt Nam. Mặc dù có sự khác biệt về cấu trúc thị trường và chính sách tiền tệ, điều này cho thấy NIM thấp không phải hiện tượng bất thường trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng.
Song, nếu ngân hàng tiếp tục chủ yếu dựa vào việc huy động tiền gửi rồi cho vay để kiếm chênh lệch lãi suất, khi NIM ngày càng thu hẹp, lợi nhuận sẽ chịu áp lực. Nói cách khác, dù quy mô tài sản và tín dụng tiếp tục mở rộng, việc NIM thu hẹp khiến mỗi đồng tín dụng tăng thêm tạo ra ít lợi nhuận hơn so với trước. Chưa kể, việc liên tục mở rộng tín dụng trong bối cảnh lợi nhuận biên thấp làm tăng tài sản có trọng số rủi ro, gây áp lực bào mòn tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và buộc cổ đông phải tiếp tục tăng vốn.
Trước thực trạng này, các ngân hàng buộc phải đa dạng hóa nguồn lợi nhuận. Theo ông Lê Hoài Ân, thu nhập ngoài lãi sẽ ngày càng quan trọng trong bức tranh lợi nhuận của các ngân hàng.

'Về dài hạn, các ngân hàng cần phát triển những nguồn thu nhập ngoài lãi mang tính bền vững như thanh toán, quản lý tài sản, bảo hiểm và dịch vụ tài chính doanh nghiệp. Tôi cho rằng triển vọng lợi nhuận cuối năm 2026 và đầu năm 2027 sẽ không chỉ được quyết định bởi tốc độ tăng trưởng tín dụng, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng kiểm soát chi phí vốn, chi phí dự phòng và đa dạng hóa nguồn thu nhập', ông nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, bà Trang cho rằng việc chỉ sống dựa vào chênh lệch lãi suất huy động và cho vay sẽ khiến lợi nhuận ngân hàng bị sụt giảm theo thời gian. Chưa kể, nếu cố duy trì NIM bằng cách đẩy lãi suất cho vay lên cao, ngân hàng sẽ chuyển rủi ro sang người đi vay và dễ dẫn đến nợ xấu.
Hiện nay, các ngân hàng đang chủ động chuyển dịch chiến lược sang các nguồn thu phi tín dụng nhằm gia tăng lợi nhuận mà không tiêu tốn vốn chủ sở hữu. Trọng tâm dịch chuyển nằm ở việc phát triển các mảng dịch vụ có tính chất lặp lại gắn liền với toàn bộ vòng đời của khách hàng như thanh toán, bảo hiểm và đặc biệt là quản lý gia sản (Wealth Management).
'Thay vì lao vào cuộc đua cạnh tranh huy động tiền gửi tiết kiệm bằng mọi giá, ngân hàng khuyến khích khách hàng dịch chuyển dòng tiền sang các tài sản quản lý (AUM) như chứng chỉ quỹ cổ phiếu hay trái phiếu trong hệ sinh thái. Dù tỷ lệ phí chia sẻ từ quản lý quỹ nhỏ hơn chênh lệch NIM truyền thống, việc quay vòng dòng tiền và duy trì quan hệ sâu rộng để bán chéo liên tục nhiều sản phẩm tài chính sẽ tạo ra tổng doanh thu bù đắp đáng kể cho phần NIM bị thu hẹp mà không làm phát sinh nợ xấu hay gánh nặng dự phòng', bà Trang cho hay.