Nợ xấu ngân hàng: Cuối năm nỗi lo càng lớn

Áp lực nợ xấu gia tăng
Thống kê từ báo cáo tài chính của 28 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng số dư nợ xấu (nợ nhóm 3-5) tính đến ngày 30/6 đạt hơn 310.000 tỷ đồng, tăng gần 48.000 tỷ đồng, tương đương tăng khoảng 18% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu bình quân của các ngân hàng tăng từ 1,85% tại cuối năm 2025 lên 2,01% vào cuối tháng 6/2026, đánh dấu mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) cũng tăng tới 31,6% sau 6 tháng.
Xét theo giá trị tuyệt đối, Sacombank có lượng nợ xấu lớn nhất hệ thống với gần 48.000 tỷ đồng, tăng 19% so với cuối năm 2025. Xếp ở các vị trí tiếp sau là BIDV với hơn 45.700 tỷ đồng, tăng 31%; VPBank với hơn 38.000 tỷ đồng, tăng 21%; VietinBank với hơn 25.000 tỷ đồng, tăng 14%. Tính về tốc độ, ABBank dẫn đầu ngành ngân hàng với dư nợ xấu tăng tới 62% chỉ sau nửa năm. Theo sau là TPBank với mức tăng 59%, HDBank tăng 38%, BIDV tăng 31% và PGBank tăng 30%. Còn nếu xét theo tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay thì Sacombank đứng đầu với tỷ lệ 7,54%, xếp sau là NCB với tỷ lệ 6,43%, OCB với 3,64% và BVBank với 3,3%.

Đáng lo hơn, trong khi rủi ro nợ xấu tăng lên thì bộ đệm dự phòng nợ xấu của nhiều ngân hàng lại có dấu hiệu mỏng đi. Theo số liệu từ Wigroup, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) bình quân toàn ngành ngân hàng giảm từ 83% cuối năm ngoái xuống còn khoảng 79% vào cuối quý II/2026. Điều này cho thấy tốc độ gia tăng của nợ xấu đang nhanh hơn khả năng tích lũy dự phòng tại nhiều nhà băng.
Nhiều ngân hàng ghi nhận tỷ lệ LLR sụt giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước, như: ABBank giảm từ 120% xuống 87%, BIDV hạ từ 100% xuống 76%, TPBank từ 92% xuống 67%, Eximbank giảm từ 44% xuống còn 32%, LPBank hạ từ 74% xuống còn 67%...
Việc tỷ lệ LLR tiếp tục đi xuống trong bối cảnh nợ xấu gia tăng cho thấy nhiều ngân hàng đang phải cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận và yêu cầu tăng cường trích lập dự phòng nhằm củng cố khả năng chống chịu trước rủi ro tín dụng. Đây là một trong những áp lực lớn của ngành ngân hàng trong nửa cuối năm 2026.
Nợ xấu tăng cao là hệ quả của mặt bằng lãi suất cho vay tăng nhanh, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Việc hạ lãi suất không dễ khi tín dụng đang tăng cao hơn huy động và giá vốn đầu vào của các ngân hàng ngày càng đắt đỏ. Theo đó, bức tranh nợ xấu nửa cuối năm nay sẽ có nguy cơ phình to khi các khoản vay lãi suất cao đến hạn tất toán.
Nhóm phân tích của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng trong nửa cuối năm 2026 và trở thành rủi ro lớn nhất đối với tăng trưởng lợi nhuận của ngành, đặc biệt tại các ngân hàng có tỷ lệ LLR dưới 60%.
Gỡ điểm nghẽn để xử lý nợ xấu hiệu quả
Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng tăng nhanh, xử lý nợ xấu hiệu quả trở thành chìa khóa để khơi thông nguồn lực, ổn định hệ thống. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, trong 6 tháng đầu năm, toàn hệ thống đã xử lý khoảng 141.400 tỷ đồng nợ xấu. Kết quả này cho thấy công tác xử lý nợ tiếp tục được đẩy mạnh, song yêu cầu nâng cao hiệu quả xử lý và việc tạo thêm dư địa cho dòng vốn quay trở lại hoạt động kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn.
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết việc xử lý các khoản nợ hiện hữu vẫn gặp nhiều trở ngại sau khi Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu hết hiệu lực từ đầu năm 2024. Việc luật hóa các quy định về xử lý tài sản bảo đảm và thu hồi nợ chưa đầy đủ khiến quá trình xử lý kéo dài, ảnh hưởng đến tốc độ thu hồi vốn và làm giảm hiệu quả xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

TS. Châu Đình Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM, đánh giá bức tranh xử lý nợ xấu trong thời gian tới sẽ phân hóa rõ giữa các nhóm ngân hàng. Các ngân hàng lớn có lợi thế hơn nhờ hệ thống quản trị rủi ro hoàn chỉnh, nguồn lực tài chính mạnh và kinh nghiệm xử lý nợ hiệu quả, trong khi các ngân hàng nhỏ sẽ gặp khó khăn hơn do chất lượng tài sản bảo đảm thấp và áp lực nợ tồn đọng kéo dài.
Để giảm áp lực nợ xấu một cách bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm, phát triển thị trường mua bán nợ, nâng cao vai trò của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm…
Thị trường đã có sự hiện diện của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC), các công ty quản lý tài sản trực thuộc ngân hàng cùng một số doanh nghiệp mua bán nợ. Hoạt động mua bán nợ đang từng bước được mở rộng nhưng thị trường vẫn vận hành khá phân tán, thiếu dữ liệu thống nhất và chưa thu hút nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Việc phát triển sàn giao dịch nợ quốc gia trên nền tảng số đang được xem là một mắt xích quan trọng trong quá trình cải cách thị trường tài chính. Một đầu mối giao dịch tập trung có thể giúp các tổ chức tín dụng công khai danh mục cần chuyển nhượng, đồng thời tạo điều kiện để nhà đầu tư tìm kiếm và lựa chọn khoản nợ phù hợp.
Nhưng xây dựng một nền tảng kỹ thuật mới chỉ giải quyết được phần 'chợ'. Nếu hàng hóa đưa lên sàn thiếu thông tin, không có tiêu chuẩn chung hoặc chưa rõ tình trạng pháp lý thì người mua vẫn khó tham gia. Vì thế, thị trường muốn phát triển phải từng bước biến các khoản nợ riêng lẻ, khó so sánh thành những tài sản có thể nhận diện và đánh giá theo một hệ tiêu chí chung.
TS. Châu Đình Linh cho rằng có thể tham khảo kinh nghiệm của Công ty Quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO), phân loại các khoản nợ có đặc điểm tương đồng thành từng nhóm hoặc danh mục. Cách làm này giúp nhà đầu tư dễ xác định mức độ rủi ro, khả năng thu hồi và giá trị tiềm năng của khoản nợ.
Theo bà Nguyễn Thị Phương, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế Ngân hàng thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng sàn giao dịch mà còn phải đồng thời hoàn thiện ba nền tảng: pháp luật về xử lý nợ xấu, cơ sở dữ liệu nợ xấu quốc gia và thị trường mua bán nợ minh bạch, hiện đại.
Còn TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để thu hút thêm nguồn lực tham gia xử lý nợ xấu, tái cơ cấu tài sản; đồng thời phát triển thị trường mua bán nợ theo giá thị trường, mở rộng thị trường thứ cấp và tăng tính minh bạch.
Ở góc độ ngân hàng, Tổng Giám đốc BIDV Lê Ngọc Lâm đề xuất cần cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường, kể cả thấp hơn giá trị sổ sách, miễn là bảo đảm công khai, minh bạch. Theo ông, đây là giải pháp cần thiết để giải phóng nguồn vốn đang bị 'đóng băng', tạo dư địa cho các ngân hàng tiếp tục cung ứng tín dụng.