Ngân hàng

Nới tín dụng cho dự án trọng điểm: Bài toán lớn nằm ở kiểm soát dòng tiền

Vneconomy
· 18 giờ trước

Tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính lan tỏa là một trong những giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, theo chuyên gia, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô tín dụng được mở rộng, mà quan trọng hơn là tiến độ giải ngân, khả năng cân đối nguồn vốn và kiểm soát dòng tiền sau giải ngân, bảo đảm vốn được sử dụng đúng dự án, đúng mục đích...

Việc tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án trọng điểm đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt dòng vốn sau giải ngân, bảo đảm vốn được sử dụng đúng dự án, đúng mục đích (Ảnh: PL).
Việc tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án trọng điểm đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt dòng vốn sau giải ngân, bảo đảm vốn được sử dụng đúng dự án, đúng mục đích (Ảnh: PL).

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai các giải pháp tín dụng hỗ trợ một số doanh nghiệp lớn thực hiện các dự án trọng điểm, có tính lan tỏa và liên kết. Đến cuối tháng 7, có 35 dự án được đề xuất với tổng nhu cầu vốn ước hơn 1,7 triệu tỷ đồng. Bước đầu, Ngân hàng Nhà nước đã tháo gỡ một số vướng mắc về hạn mức tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại xem xét cấp vốn cho một số dự án.

Trao đổi với VnEconomy, ông Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước), cho rằng cần làm rõ một cách hiểu có thể gây nhầm lẫn trên thị trường: việc các dự án trọng điểm được tháo gỡ vướng mắc về room tín dụng không đồng nghĩa toàn bộ nhu cầu vốn của các dự án sẽ lập tức được 'bơm' vào nền kinh tế.

Ông Hòe dẫn trường hợp 18 dự án trọng điểm với quy mô vốn được đề cập khoảng 752.000 tỷ đồng và nhấn mạnh số vốn này phải được giải ngân theo tiến độ thực tế của từng dự án. 'Làm gì có chuyện từ nay đến cuối năm mà có thể giải ngân một lúc hết 752 nghìn tỷ đồng được,' ông nói.

Theo ông, các dự án hạ tầng phải trải qua nhiều công đoạn, từ giải phóng mặt bằng, san lấp, đo đạc kỹ thuật đến thi công; do đó, nhu cầu vốn phát sinh và được giải ngân theo từng giai đoạn. Ngay cả khi khu vực tư nhân triển khai nhanh, quá trình này cũng có thể kéo dài khoảng 3 năm.

Vì vậy, theo ông Hòe, không nên đánh đồng quy mô vốn của các dự án với lượng tiền thực tế được giải ngân trong một thời điểm. Cách hiểu rằng một lượng tiền rất lớn sẽ ngay lập tức được đưa vào nền kinh tế có thể tạo kỳ vọng sai về lạm phát, từ đó khiến người dân gia tăng tâm lý phòng thủ và  tác động tiêu cực tới thị trường.

Tỷ lệ cho vay/huy động (đã loại trừ phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước đã được điều chỉnh theo hệ số theo lộ trình quy định) của các ngân hàng tại ngày 30/6/2026 (Nguồn: BCTC ngân hàng, WiGroup)
Tỷ lệ cho vay/huy động (đã loại trừ phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước đã được điều chỉnh theo hệ số theo lộ trình quy định) của các ngân hàng tại ngày 30/6/2026 (Nguồn: BCTC ngân hàng, WiGroup)

Ở góc độ tích cực, ông Phạm Xuân Hòe cho rằng việc tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án lớn, trọng điểm, có tính lan tỏa sẽ bổ sung nguồn lực để đẩy nhanh đầu tư hạ tầng, qua đó phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số. Dòng vốn đầu tư vào các dự án này còn có thể tạo hiệu ứng lan tỏa, kích thích và thu hút thêm vốn của khu vực tư nhân.

Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách phụ thuộc lớn vào tiến độ giải ngân và khả năng kiểm soát dòng tiền.

'Một tập đoàn lớn có thể sở hữu hệ sinh thái gồm hàng trăm dự án, khiến việc kiểm soát dòng vốn giữa các dự án trở nên phức tạp. Nếu các dự án trọng điểm được hưởng cơ chế tín dụng đặc thù lại gặp vướng mắc về giải phóng mặt bằng thì liệu nguồn vốn vay có được chuyển sang dự án khác không? Vấn đề là ai kiểm soát được câu chuyện này?', ông Hoè nêu vấn đề.

Theo số liệu từ báo cáo tài chính quý II/2026 của 28 ngân hàng, LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tiền gửi) cốt lõi bình quân ở mức 114,63%, sau khi loại trừ phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo hệ số điều chỉnh trong lộ trình quy định. Có 10/28 ngân hàng ghi nhận LDR cốt lõi cao hơn mức bình quân.

Đây là chỉ tiêu phân tích được tính toán từ báo cáo tài chính nhằm phản ánh tương quan giữa dư nợ và nguồn tiền gửi cốt lõi, không phải tỷ lệ LDR theo công thức pháp lý mà các ngân hàng phải duy trì theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Theo quy định hiện hành, tỷ lệ LDR được xác định theo phạm vi dư nợ và tổng tiền gửi riêng và các ngân hàng phải duy trì mức tối đa 85%.

Do đó, tỷ lệ dư nợ/tiền gửi cốt lõi trên 100% không đồng nghĩa ngân hàng vi phạm giới hạn LDR. Chỉ số này cho thấy dư nợ cho vay lớn hơn quy mô tiền gửi cốt lõi theo cách tính nói trên và phần chênh lệch được ngân hàng cân đối bằng các nguồn vốn khác.

Trong bối cảnh các ngân hàng được tạo thêm dư địa tín dụng cho những dự án trọng điểm, mặt bằng LDR cốt lõi cao cho thấy room tín dụng không phải yếu tố duy nhất quyết định khả năng mở rộng cho vay. Khả năng huy động và cân đối nguồn vốn để theo kịp tốc độ tăng tín dụng cũng là yếu tố cần được tính đến.

Đồng quan điểm với ông Hòe, một chuyên gia nguồn vốn tại ngân hàng thương mại lưu ý, cơ chế tín dụng đặc thù được thiết kế cho từng dự án dựa trên tính trọng điểm và khả năng lan tỏa nhưng nếu dòng tiền giữa dự án, công ty mẹ, công ty con và các pháp nhân liên quan của các tập đoàn lớn không được tách bạch, lợi ích của chính sách có thể lan sang những hoạt động không thuộc đối tượng ưu tiên.

Theo vị chuyên gia, Việt Nam có thể tham khảo cách các nhà đầu tư nước ngoài giám sát dòng vốn. Khi đầu tư vào trái phiếu, nhà đầu tư yêu cầu doanh nghiệp cập nhật thường xuyên tiến độ giải ngân, tiền được sử dụng để mua gì, thực hiện hạng mục nào và được phân bổ vào đâu trong dự án.

'Với mức độ số hóa hiện nay, việc theo dõi dòng vốn hoàn toàn có thể thực hiện được. Điều cần thiết là liên thông dữ liệu và có cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình phân bổ, sử dụng nguồn vốn', vị chuyên gia đề xuất.

Như vậy, việc tạo thêm dư địa tín dụng có thể giúp tháo một nút thắt về vốn cho các dự án trọng điểm. Nhưng để nguồn vốn thực sự chuyển hóa thành năng lực sản xuất, hạ tầng và tăng trưởng, bài toán quan trọng hơn vẫn là giải ngân đến đâu, dòng tiền đi đâu và được kiểm soát như thế nào sau khi rời khỏi ngân hàng.