Tin tức thị trường

Phát triển công nghiệp văn hóa: Đề xuất cơ chế hỗ trợ và thu hút đầu tư, đa dạng hóa nguồn lực tài chính

Vneconomy
· 8 giờ trước

Chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư hiện còn phân tán, chưa hình thành cơ chế đồng bộ để khuyến khích đầu tư vào hạ tầng, sản phẩm và dự án công nghiệp văn hóa có tính đặc thù, có khả năng tạo giá trị kinh tế. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đề xuất chính sách đa dạng hóa nguồn lực tài chính nhằm phát triển công nghiệp văn hóa với mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030.

Hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa đang có nhu cầu lớn về nguồn lực tài chính và đầu tư. Ảnh: VGP.
Hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa đang có nhu cầu lớn về nguồn lực tài chính và đầu tư. Ảnh: VGP.

Công nghiệp văn hóa ngày nay đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và gia tăng sức mạnh mềm của các quốc gia.

TẠO ĐÒN BẨY ĐƯA CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA THÀNH ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG

Theo định hướng của Nhà nước, công nghiệp văn hóa được xác định gồm 10 lĩnh vực trọng tâm với quy mô khoảng 100.000 doanh nghiệp và cơ sở kinh tế hoạt động trong toàn ngành. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2030, đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp tối thiểu 7% GDP hằng năm.

Tuy nhiên, hiện nay, điểm nghẽn lớn nhất là chưa có văn bản luật điều chỉnh tổng thể, thống nhất để phát triển công nghiệp văn hóa với tư cách là ngành kinh tế có tính liên ngành.

Ngoài ra, còn khoảng trống pháp lý về việc điều chỉnh các quan hệ về phát triển tài sản trí tuệ gốc, tài sản trí tuệ phái sinh, hồ  sơ tài sản trí tuệ, mã định danh tài sản trí tuệ, cơ sở dữ liệu, sàn giao dịch tài sản trí tuệ và cơ chế hỗ trợ định giá phục vụ hoạt động đầu tư, tín dụng và thương mại hóa.

'Khoảng trống này làm hạn chế khả năng khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa', báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nêu rõ.

Đặc biệt, hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa đang có nhu cầu lớn về nguồn lực tài chính và đầu tư. Trong khi đó, khả năng tiếp cận các nguồn vốn của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này còn hạn chế.

Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư hiện còn phân tán, chưa hình thành cơ chế đồng bộ để khuyến khích đầu tư vào hạ tầng, sản phẩm và dự án công nghiệp văn hóa có tính đặc thù, có khả năng tạo giá trị kinh tế, phát huy bản sắc văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giai đoạn 2018 - 2025, tỷ trọng công nghiệp văn hoá trong GDP Việt Nam ước đạt 4-5%. Con số này còn khoảng cách rất xa so với mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là tối thiểu 7% và khó có thể bứt phá nếu không sớm có một hành lang pháp lý của Nhà nước.

Từ cơ sở chính trị, pháp lý và cơ sở thực tiễn, việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là đòi hỏi cấp bách nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam.

Luật được xây dựng nhằm khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước.

ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH

Dự thảo luật bao gồm 09 chương và 51 điều, gồm 6 nhóm chính sách lớn là phát triển hệ sinh thái, tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.

Về cơ chế tài chính, các chính sách nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về nguồn lực tài chính, chia sẻ rủi ro đầu tư, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đối với hạ tầng, sản phẩm trọng điểm, cơ sở công cộng và cơ chế thu hút nhà đầu tư nước ngoài ưu tiên thu hút trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Với chính sách này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất 11 nhóm nội dung, trong đó đa dạng hóa các nguồn ngân sách nhà nước, vốn vay, đóng góp, tài trợ và các quỹ hợp pháp…

Ngoài ra, cho phép các quỹ nhà nước hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa, thực hiện bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp có dự án, phương án sản xuất kinh doanh dựa trên tài sản trí tuệ. Cho phép các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ có vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, dự án công nghiệp văn hóa theo các nguyên tắc thị trường, chấp nhận rủi ro có kiểm soát…

Cùng với đó, dự thảo quy định về việc hỗ trợ chi phí sản xuất cho các dự án có giá trị kinh tế cao, áp dụng chính sách hỗ trợ, ưu đãi và xã hội hóa cho các cơ sở hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; cho phép trừ tối đa 150% giá trị tài trợ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản tài trợ cho cơ sở này…

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRÍ TUỆ

Đặc biệt, điều 14 dự thảo quy định tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa được sử dụng để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong các quan hệ tín dụng theo quy định của pháp luật.

Tổ chức tín dụng nhận tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm được sử dụng kết quả định giá của tổ chức thẩm định giá theo quy định của Luật Giá làm căn cứ xác định giá tham chiếu để làm cơ sở xác định giá trị tài sản bảo đảm.

Việc định giá tài sản trí tuệ là lĩnh vực mới. Do đó, dự thảo đề xuất các hoạt động hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực định giá tài sản trí tuệ như xây dựng, hoàn thiện phương pháp, chuẩn, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật và cơ sở dữ liệu phục vụ định giá tài sản trí tuệ phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện của Việt Nam…

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ xây dựng và công bố định kỳ cơ sở dữ liệu về giá giao dịch tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa làm căn cứ tham chiếu cho hoạt động định giá, góp vốn, giao dịch bảo đảm và chuyển nhượng.

Dự án luật dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026).

Theo đánh giá của cơ quan soạn thảo, tổng số nguồn lực tài chính dự kiến trong 5 năm khoảng 500 nghìn tỷ đồng. Trong đó, cơ cấu từ nguồn ngân sách nhà nước là 100 nghìn tỷ (10% từ ngân sách trung ương, 70% từ ngân sách Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 20% từ ngân sách của các tỉnh còn lại), 300 nghìn tỷ từ nguồn xã hội hóa, 100 nghìn tỷ từ thu hút đầu tư nước ngoài.