Kết quả kinh doanh

POW: PV Power vượt kế hoạch lợi nhuận nhờ gần 2.500 tỷ đồng hồi tố

Stockbiz
· 17 giờ trước

PV Power ghi nhận hơn 5.000 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong nửa đầu năm 2026, vượt xa kế hoạch cả năm. Tuy nhiên, gần một nửa lợi nhuận trước thuế đến từ các khoản thu nhập hồi tố.

Nhơn Trạch 3 và 4 bắt đầu đóng góp vào doanh thu, mở thêm động lực tăng trưởng cho POW.

Nhiệt điện tăng huy động, lợi nhuận vượt xa kế hoạch

Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam - CTCP (PV Power, mã chứng khoán: POW) khép lại nửa đầu năm 2026 với kết quả kinh doanh tăng mạnh. Doanh thu thuần đạt 32.635 tỷ đồng, tăng 86% so với cùng kỳ và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Lợi nhuận sau thuế đạt 5.008 tỷ đồng, gấp hơn 4 lần cùng kỳ và tương đương 446% kế hoạch. Lợi nhuận thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 4.718 tỷ đồng, tăng 350%.

Riêng quý II/2026, doanh thu thuần của PV Power đạt 20.308 tỷ đồng, tăng 116% so với cùng kỳ và gần 65% so với quý trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 3.708 tỷ đồng, tăng 387%; lợi nhuận thuộc cổ đông công ty mẹ đạt 3.519 tỷ đồng, gấp gần 6 lần cùng kỳ.

Kết quả trên trước hết được hỗ trợ bởi sản lượng điện tăng cao. Trong 6 tháng đầu năm, tổng sản lượng điện tiêu thụ của POW đạt hơn 13 tỷ kWh, tăng 42% so với cùng kỳ. Mức tăng đến từ việc Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 bắt đầu vận hành thương mại, cùng khả năng huy động cải thiện tại một số nhà máy nhiệt điện hiện hữu.

Nhà máy Vũng Áng 1 ghi nhận sản lượng 4,18 tỷ kWh, tăng 13%; Nhơn Trạch 1 đạt 699 triệu kWh, tăng 48%; Nhơn Trạch 2 đạt 2,14 tỷ kWh, tăng 56%. Riêng Nhơn Trạch 3 và 4 đóng góp khoảng 2,6 tỷ kWh, so với 105 triệu kWh trong giai đoạn chạy thử cùng kỳ năm trước.

Trong quý II, sản lượng điện của PV Power đạt khoảng 7,4 tỷ kWh, tăng 50% so với cùng kỳ. Nhu cầu điện quốc gia ở mức cao, trong khi nguồn thủy điện hạn chế, đã tạo điều kiện để các nhà máy nhiệt điện của doanh nghiệp được huy động nhiều hơn, đặc biệt tại Vũng Áng 1 và Nhơn Trạch 2.

Dù vậy, kết quả giữa các nhà máy vẫn có sự phân hóa. Sản lượng Cà Mau 1 và 2 giảm 4% do nguồn khí cấp thấp. Trong nhóm thủy điện, Hủa Na tăng sản lượng 17%, nhưng Đakđrinh giảm 8% và Nậm Nơn giảm 9%. Việc các hồ chứa phải cân đối giữa yêu cầu phát điện và tích nước cho cao điểm mùa khô đã hạn chế công suất huy động.

Bên cạnh tăng trưởng sản lượng, yếu tố có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận là khoản thu nhập hồi tố gần 2.500 tỷ đồng, chiếm khoảng 45% lợi nhuận trước thuế 6 tháng của Công ty. Đây là các khoản liên quan đến việc xử lý, quyết toán những vấn đề phát sinh và tồn đọng từ các năm trước.

Trong đó, PV Power ghi nhận hơn 1.000 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá tại Nhà máy Vũng Áng 1 trong giai đoạn 2019-2021; hơn 991 tỷ đồng từ quyết toán chênh lệch tiền điện và giá khí tại Cà Mau 1 và 2; cùng khoảng 381 tỷ đồng do giảm trích lập dự phòng chi phí vận hành, bảo trì tại Vũng Áng và Cà Mau 1 và 2.

Khoản thu nhập này đã góp phần đưa lợi nhuận của PV Power lên mức cao, nhưng mang tính không thường xuyên. Nếu loại trừ phần hồi tố, hoạt động cốt lõi vẫn cải thiện nhờ sản lượng nhiệt điện tăng, song mức tăng lợi nhuận sẽ thấp hơn đáng kể so với số liệu báo cáo.

Lợi nhuận trong nửa cuối năm được dự báo trở lại mức bình thường khi đóng góp từ các khoản hồi tố giảm xuống. Ước tính lợi nhuận thuộc cổ đông công ty mẹ trong giai đoạn này đạt khoảng 1.500 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ, với nhiệt điện tiếp tục là động lực chính.

Nhơn Trạch 3 và 4 tạo động lực mới cho cổ phiếu POW

Triển vọng vận hành của PV Power trong phần còn lại của năm 2026 chủ yếu dựa vào các nhà máy nhiệt điện. Khả năng El Niño quay trở lại từ quý II có thể khiến điều kiện thủy văn kém thuận lợi kéo dài, làm giảm khả năng huy động tại Hủa Na, Nậm Nơn và Đakđrinh. Điều này đồng thời làm tăng nhu cầu huy động các nhà máy điện than và điện khí để đáp ứng nhu cầu của hệ thống.

SSI Research dự báo tổng sản lượng điện năm 2026 của PV Power đạt hơn 24 tỷ kWh, tăng 37%. Trong đó, Vũng Áng 1 có thể tăng sản lượng 17%, Nhơn Trạch 1 tăng 25% và Nhơn Trạch 2 tăng 39%. Ngược lại, sản lượng Hủa Na, Đakđrinh và Nậm Nơn lần lượt được dự báo giảm 15%, 13% và 10%.

Nhơn Trạch 3 và 4 được kỳ vọng trở thành nguồn tăng trưởng mới, với sản lượng dự kiến đạt khoảng 4,9 tỷ kWh và đóng góp 14.642 tỷ đồng doanh thu trong năm 2026. Đây là cụm nhà máy điện LNG đầu tiên đi vào vận hành tại Việt Nam, giúp công ty mở rộng quy mô công suất trong bối cảnh hệ thống điện cần bổ sung thêm nguồn điện ổn định.

Tuy nhiên, hiệu quả của hai nhà máy còn phụ thuộc vào nguồn cung và giá LNG, cơ chế chuyển chi phí nhiên liệu vào giá điện cũng như mức độ huy động từ hệ thống. Theo báo cáo của SSI Research, đến tháng 6/2026, POW đã bảo đảm nguồn LNG phục vụ vận hành đến hết tháng 8.

Ở giai đoạn dài hơn, doanh nghiệp tiếp tục mở rộng danh mục dự án LNG. Dự án Vũng Áng III tại Hà Tĩnh có công suất thiết kế 1.500 MW, tổng vốn đầu tư dự kiến 51.430 tỷ đồng. PV Power dự kiến sở hữu 51% dự án, trong khi hai tổ máy được lên kế hoạch vận hành lần lượt vào quý I và quý II/2032.

Danh mục dự án mới mở ra dư địa tăng trưởng công suất, nhưng cũng đặt ra bài toán vốn và dòng tiền. SSI Research dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của PV Power có thể âm 6.637 tỷ đồng trong năm 2026. Tổng vay ngắn hạn và dài hạn dự kiến tăng lên hơn 38.000 tỷ đồng, kéo chi phí tài chính tăng 84%, lên khoảng 1.901 tỷ đồng.

Đối với cổ phiếu, tại mức giá 13.250 đồng vào ngày 14/8/2026, POW được giao dịch với P/E dự phóng năm 2026 khoảng 7,5 lần và EV/EBITDA 4,2 lần. Dù vậy, mức định giá này được tính trên nền lợi nhuận có đóng góp đáng kể của thu nhập hồi tố.

Sang năm 2027, SSI Research dự báo lợi nhuận thuộc cổ đông công ty mẹ của PV Power giảm 42%, còn 3.572 tỷ đồng, khi không còn khoản thu nhập một lần như năm 2026. P/E dự phóng theo đó tăng lên 13,1 lần. Công ty chứng khoán này duy trì giá mục tiêu 12 tháng đối với POW ở mức 16.000 đồng/cổ phiếu, tương ứng tiềm năng tăng 20,8% so với giá tham chiếu trong báo cáo.

Kết quả kinh doanh nửa đầu năm và đóng góp mới từ Nhơn Trạch 3 và 4 đang tạo nền tảng hỗ trợ cổ phiếu POW. Tuy nhiên, việc gần một nửa lợi nhuận trước thuế đến từ các khoản hồi tố cho thấy nhà đầu tư cần thận trọng khi sử dụng lợi nhuận năm 2026 làm cơ sở định giá dài hạn. Khả năng duy trì sản lượng nhiệt điện, bảo đảm nguồn LNG và cân đối dòng tiền cho chu kỳ đầu tư mới sẽ quyết định triển vọng của doanh nghiệp trong những năm tiếp theo.

Link gốc