Sầu riêng "luồng xanh" được quản lý chặt chẽ từ khâu kiểm nghiệm đất, thu hoạch, đóng gói đến hoàn thiện hồ sơ điện tử.
Ngày 10/4, tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, lô sầu riêng đầu tiên chính thức được thông quan theo quy trình 'luồng xanh' dựa trên hệ thống truy xuất toàn trình. Lô hàng gồm 2 container, mỗi container khoảng 7.000 quả, được thu hoạch từ vùng nguyên liệu tại Bảo Lộc (Lâm Đồng), đóng gói theo quy cách 10 kg và 18 kg/thùng.
Khác với cách kiểm soát truyền thống chủ yếu tập trung ở khâu cuối, mô hình 'luồng xanh' tổ chức lại toàn bộ quy trình theo hướng kiểm soát từ đầu vào. Thông tin được cập nhật liên tục, tạo thành hệ thống liên thông từ vùng trồng đến cửa khẩu.
Ngay từ giai đoạn đầu, mẫu đất tại vùng trồng đã được lấy mẫu, niêm phong và cập nhật lên hệ thống dữ liệu. Khi thu hoạch, sầu riêng được gắn tem truy xuất ngay tại vườn thay vì dán sau khi thu mua như trước. Sau đó, sản phẩm được chuyển về cơ sở đóng gói để phân loại, dán mã QR cho từng thùng hàng, gắn mã container và hoàn thiện hồ sơ điện tử.
Trung tá Đỗ Phi Long, Giám đốc Trung tâm Tem và Vật liệu chống giả (Bộ Công an), cho biết mỗi quả sầu riêng được gắn một mã QR duy nhất, liên kết với thông tin về vùng trồng, quy trình sản xuất và vận chuyển. Tem có khả năng chống giả, không thể tái sử dụng và cho phép truy vết toàn bộ hành trình sản phẩm.
Thông qua mã QR, người sử dụng có thể tra cứu đầy đủ thông tin từ đơn vị đóng gói, mã thùng hàng đến từng sản phẩm cụ thể trong thùng. Hệ thống cũng hỗ trợ hiển thị theo ngôn ngữ của thị trường nhập khẩu.
Sau hơn một tháng triển khai, mô hình sầu riêng 'luồng xanh' bắt đầu ghi nhận những kết quả cụ thể. Theo Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến ngày 25/5, khoảng 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm sầu riêng. Dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực với sự tham gia đồng thời của doanh nghiệp xuất khẩu, nông hộ, đơn vị công nghệ và cơ quan quản lý.
Kết quả thực tiễn cũng cho thấy lô hàng sầu riêng 'luồng xanh' có thể hoàn tất toàn bộ quy trình từ thu hoạch, đóng gói, vận chuyển đến thông quan chỉ trong khoảng 6 ngày. Trong khi đó, trước đây thời gian thường kéo dài từ 8-11 ngày, thậm chí có chuyến lên tới 21 ngày.
Ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ đánh giá kết quả trên cho thấy tính khả thi của mô hình quản lý mới, đồng thời phản ánh sự chuyển đổi từ chuỗi cung ứng vận hành rời rạc sang mô hình vận hành theo hệ thống, dựa trên dữ liệu và có kiểm soát.
Về phía doanh nghiệp, ông Trần Văn Tưởng, Giám đốc Công ty TNHH Tập đoàn trái cây 001 - một trong hai doanh nghiệp đầu tiên tham gia lô hàng 'luồng xanh', cho biết việc mỗi sản phẩm có một 'định danh' riêng giúp theo dõi và kiểm soát toàn bộ quá trình từ sản xuất đến lưu thông.
Dữ liệu số hóa không chỉ phục vụ kiểm tra, xác thực mà còn hỗ trợ phân tích thị trường, điều hành và xây dựng chiến lược tiêu thụ nông sản.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả bước đầu, quá trình triển khai vẫn còn nhiều khó khăn. Theo Vụ Khoa học và Công nghệ, mức độ tham gia giữa các địa phương chưa đồng đều, dữ liệu còn phân tán và thiếu chuẩn hóa. Hệ thống pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu vẫn chưa hoàn thiện.
Ngoài ra, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực đầu tư hiện chủ yếu dựa vào hỗ trợ từ doanh nghiệp, gây khó khăn cho việc mở rộng mô hình trên phạm vi toàn quốc.
Từ thực tế này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các đơn vị tiếp tục hoàn thiện quy trình, hệ thống và hướng dẫn triển khai; phân công rõ trách nhiệm từ Trung ương đến địa phương, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá trong quá trình thực hiện.
Việc hình thành hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất, gắn với mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và toàn bộ chuỗi sản xuất đang được xem là bước đi quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp hiện đại, lấy thị trường và dữ liệu làm nền tảng quản trị.
Trong đó, quy hoạch vùng nguyên liệu được xem là nền tảng nhằm bảo đảm phát triển có định hướng, phù hợp điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường, hạn chế tình trạng mở rộng tự phát. Cùng với đó, quản lý mã số vùng trồng là điều kiện bắt buộc để tham gia xuất khẩu chính ngạch, đòi hỏi việc cấp và giám sát phải chặt chẽ, gắn với trách nhiệm của địa phương và cơ quan chuyên ngành.
