Vĩ mô Việt Nam

Sau nhịp giảm mạnh, định giá thị trường đã hợp lý khi xét đến tăng trưởng dài hạn?

Vneconomy
· 11 giờ trước
Theo Chứng khoán SHS, định giá P/E của VN-Index ở mức 13,8; P/E Forward 12,2. Mức định giá này được xem tương đối hợp lý khi xét đến triển vọng tăng trưởng dài hạn, quy mô GDP năm 2026.

Thị trường bắt đầu tháng 04/2026 với nhiều áp lực như căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông khi Mỹ và Israel tiếp tục tấn công Iran dẫn tới tình trạng bất định, đứt gãy chuỗi cung ứng tại trung tâm năng lượng của thế giới. Diễn biến này đã thúc đẩy nhà đầu tư, nhà quản lý quỹ bán cổ phiếu để chuyển sang các danh mục an toàn.

Tâm lý nhà đầu tư e ngại xảy ra khủng hoảng, thị trường chứng khoán toàn cầu suy thoái có thể xuất hiện sau chu kỳ 04 năm, tương tự bối cảnh chiến tranh Nga - Ukraine năm 2022 và suy thoái năm 2018.

Nhận định về thị trường chứng khoán trong tháng 4/2026, Chứng khoán SHS cho rằng thị trường tiếp tục chịu ảnh hưởng với những yếu tố như căng thẳng địa chính trị trên thế giới mở rộng với tâm điểm mới Trung Đông; Giảm tăng trưởng tín dụng, lãi suất huy động cho vay tăng.

Ngoài ra, các rủi ro bất định khác như thu hẹp dòng chảy thương mại, đứt gãy chuỗi cung ứng; Tỷ lệ dự nợ vay ký quỹ ở mức cao, lãi suất ký quỹ tăng; Khủng hoảng năng lượng, lạm phát tăng, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế...

Mặc dù vậy, trong nước vẫn có nhiều yếu tố tích cực hỗ trợ thị trường gồm: Nền kinh tế Việt Nam có sức chống chịu tốt, có dư địa để điều hành chính sách tài khóa, hỗ trợ nền kinh tế. Quy mô vốn hóa thị trường sau giai đoạn giảm mạnh, đang tương đối hợp lý khi xét tiềm năng tăng trưởng dài hạn.

Trong tháng 3/2026, VN-Index kết thúc giai đoạn tăng trưởng mạnh ở vùng đáy quanh 1.080 điểm từ tháng 04/2025 lên vùng giá 1.920 điểm. Điểm nhấn cho giai đoạn này là cú sốc thuế quan đầu tháng 4/2025 và cú sốc nguồn cung dầu mỏ đầu tháng 3/2026.

Thị trường sẽ bắt đầu tháng 4/2026 với kỳ vọng vào kết quả kinh doanh quý 1, thông tin đánh giá giữa kỳ nâng hạng của FTSE và áp lực lạm phát, chi phí gia tăng ảnh hưởng đến doanh nghiệp, nền kinh tế trong quý 2.

SHS cho rằng chỉ số VN-Index sẽ dao động trong biên độ hẹp trên vùng hỗ trợ quanh 1.600 điểm và vùng kháng cự quanh 1.750 điểm. Hiện tại rất khó để tìm kiếm các cơ hội tăng trưởng mạnh trong bối cảnh nhiều yếu tố rủi ro, bất định vẫn chi phối thị trường tài chính.

Do đó, SHS duy trì quan điểm trung lập, thận trọng xem xét các cơ hội đầu tư giá trị với tỉ lệ cổ tức cao, ở các doanh nghiệp chất lượng.

Cuối tháng 03/2026, tổng vốn hóa toàn thị trường khoảng 386 tỷ USD, khoảng 75% GDP năm 2025. Định giá P/E của VN-Index ở mức 13,8; P/E Forward 12,2. Mức định giá này được xem tương đối hợp lý khi xét đến triển vọng tăng trưởng dài hạn, quy mô GDP năm 2026.

Tuy nhiên triển vọng tăng trưởng trung hạn 01-02 quý đến là không chắc chắn tăng trưởng ở mức cao. Hệ số nghịch đảo E/P là 7,3%, chưa hẳn hấp dẫn so với lãi suất tiết kiệm hiện nay. Do đó thị trường cần thời gian tích lũy chờ các yếu tố của doanh nghiệp cải thiện. So sánh tương quan, mức P/E Forward 12,2 của VN-Index tương đương các nước trong khu vực.

Về lãi suất, theo SHS, làn sóng tăng lãi suất huy động cuối tháng 3/2026 cho thấy áp lực vốn trong hệ thống ngân hàng đã quay trở lại rõ rệt, không còn mang tính cục bộ. Việc mức lãi suất niêm yết 10%/năm xuất hiện trở lại sau khoảng 4 năm, cùng với động thái tăng lãi suất của nhóm 'Big 4' ở kỳ hạn 12 tháng từ 5,2% lên 5,9%, phản ánh cạnh tranh huy động đang bước vào giai đoạn căng thẳng hơn, đặc biệt trong bối cảnh tỷ giá biến động và thanh khoản liên ngân hàng thiếu ổn định.

Rủi ro lớn nhất của xu hướng này nằm ở chi phí vốn của khu vực doanh nghiệp. Với độ nhạy cao của nền kinh tế đối với lãi suất, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1% có thể làm chi phí lãi vay toàn hệ thống tăng thêm khoảng 184.000 tỷ đồng mỗi năm, kéo theo nguy cơ thu hẹp biên lợi nhuận, giảm nhu cầu đầu tư tư nhân và làm suy yếu sức chống chịu của các doanh nghiệp có đòn bẩy cao.

Đáng lưu ý, đây là dạng chi phí 'ngấm dần' thường bộc lộ rõ trong các quý sau khi lãi suất huy động tăng.

Tuy nhiên, điểm cốt lõi là lãi suất tăng hiện tại chủ yếu phản ánh cuộc đua giành tiền gửi giữa các ngân hàng, hơn là tín hiệu của nhu cầu tín dụng bùng nổ. Dữ liệu tín dụng tính đến 24/03 vẫn tăng chậm, cho thấy vốn chưa chảy mạnh ra nền kinh tế thực mà vẫn luân chuyển trong hệ thống tài chính.

Vì vậy, mặt bằng lãi suất tăng trong khi tín dụng chưa tăng tương xứng sẽ tạo ra nghịch lý: chi phí vốn tăng trước, nhưng tăng trưởng kinh tế chưa kịp hưởng lợi. Trong bối cảnh mục tiêu GDP hai chữ số, SHS Research cho rằng việc dựa quá nhiều vào đầu tư công là không đủ, bởi tăng trưởng bền vững vẫn phải đến từ sự phục hồi đồng thời của tiêu dùng, xuất khẩu và đầu tư tư nhân.

-Thu Minh

]]>