Quy hoạch nhiều, làm chưa được bao nhiêu
Bức tranh về tiến độ đầu tư các dự án điện với tiến độ chưa như kỳ vọng đã vừa được Bộ Công Thương chỉ ra khi nhận định về các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026-2030 và điều chỉnh Quy hoạch điện VIII.
Theo Bộ Công Thương, trong giai đoạn vừa qua, việc triển khai các dự án nguồn điện tại nhiều địa phương 'rất chậm', tiềm ẩn rủi ro đối với an ninh cung ứng điện. Nhiều dự án nguồn điện lớn thuộc thẩm quyền của địa phương trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư và tổ chức triển khai thực hiện đều rất chậm.
Những con số được Bộ Công Thương đưa ra cho thấy khoảng cách khá xa giữa quy hoạch và thực tế.
Đối với các dự án nguồn điện do địa phương quản lý, tổng công suất các dự án đã đưa vào vận hành mới chiếm khoảng 5%, dự án đã khởi công nhưng chưa vận hành chiếm khoảng 9%, dự án đã lựa chọn được nhà đầu tư nhưng chưa khởi công chiếm 28%.
Đáng chú ý, dự án đã có chủ trương đầu tư nhưng chưa lựa chọn được nhà đầu tư chiếm khoảng 12%, còn tới khoảng 45% công suất các dự án chưa có chủ trương đầu tư.
Điều đó có nghĩa, phần rất lớn công suất nguồn điện được tính toán trong quy hoạch vẫn còn cách khá xa thời điểm phát điện thương mại.
Lưới điện cũng không khá hơn nhiều. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị thành viên đã và đang triển khai và dự kiến hoàn thành 292 công trình, gồm 78 công trình 500 kV và 214 công trình 220 kV, với tổng khối lượng thực hiện khoảng 16.665 km đường dây và 91.263 MVA tổng dung lượng máy biến áp trong giai đoạn 2025-2030.
Tuy nhiên, con số này cũng chỉ chiếm 28,6% khối lượng dự án lưới điện được đề ra tại Quy hoạch điện VIII và khoảng 40,2% khối lượng dự án lưới điện dự kiến nhu cầu của toàn hệ thống trong giai đoạn 2025-2030. Phần còn lại phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thực hiện của các chủ đầu tư khác nhưng cũng chưa thấy có nhiều tín hiệu khả quan.
Trong khi tiến độ đầu tư không theo kịp kế hoạch, nhu cầu điện vẫn tiếp tục tăng.
Năm 2026, tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu dự kiến đạt 354,4 tỷ kWh, tăng 9,7% so với năm 2025. Công suất cực đại toàn hệ thống dự kiến đạt 57.537 MW, cao hơn 6,4% so với năm trước.
Đáng chú ý hơn là giai đoạn 2027-2030 các nhu cầu về điện sẽ còn cao hơn. Theo kịch bản được Bộ Công Thương tính toán, hệ thống điện quốc gia cũng cần bổ sung khoảng hơn 4.000 MW năm 2027 và tới năm 2030 là 13.026 MW.
Vấn đề là thời gian đầu tư và hoàn thành các dự án nguồn điện mới cần cần nhiều năm. Bản thân Bộ Công Thương cũng thẳng thắn chỉ ra hàng loạt nguyên nhân khiến các dự án điện chậm. Có dự án điện LNG rất chậm trong triển khai vì khó khăn trong thu xếp tài chính, cung cấp turbine, đàm phán hợp đồng mua bán điện, giá khí LNG nhập khẩu cao và biến động mạnh. Có dự án điện LNG rất chậm, thậm chí chưa có nhà đầu tư. Các dự án điện gió ngoài khơi còn nhiều vấn đề về điều tra, khảo sát, đo đạc, giao khu vực biển, lựa chọn nhà đầu tư.
Không chỉ nguồn điện, các dự án lưới điện cũng mắc ở thỏa thuận hướng tuyến, phê duyệt chủ trương đầu tư, chấp thuận địa điểm, mặt bằng và các thủ tục đất đai, môi trường.
Một vấn đề khác được cơ quan quản lý nhắc tới là tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện trong Quy hoạch điện VIII rất lớn, gây áp lực về vốn đầu tư đối với doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước.
![]() |
Điện mặt trời được đề nghị phát triển mạnh trong thời gian tới. |
Tăng tốc hiện thực hóa
Trước thực tế nhu cầu điện vẫn tăng, Bộ Công thương đã đưa ra hai bước triển khai đồng thời là thực hiện ngay các giải pháp cấp bách và bổ sung, điều chỉnh Quy hoạch điện.
Ở nhóm giải pháp phải thực hiện ngay để đảm bảo cung ứng điện cho năm 2027-2028 có việc giao chỉ tiêu cho các địa phương, đặc biệt là miền Bắc về phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, với tổng công suất khoảng 2.800 MW hoàn thành trước tháng 6/2027, kết hợp hệ thống pin lưu trữ BESS phân tán 3.000-5.000 MW tại các địa phương trước mùa khô năm 2027 và năm 2028.
Bộ Công Thương cũng đề xuất tập trung đầu tư các dự án BESS với mức công suất cần bổ sung khoảng 2.000-3.000 MW, phục vụ cấp điện cho giai đoạn 2027-2028.
Nguồn điện nhập khẩu cũng được tính tới. Theo đó, khoảng 700 MW năm 2027 và 1.700 MW năm 2028 nhập khẩu từ Lào qua Trung Quốc; đồng thời yêu cầu đưa vào vận hành 1.000 MW năm 2027 và 3.000 MW năm 2028 từ các dự án điện mặt trời tập trung và 2.000 MW điện gió trên bờ và gần bờ năm 2028.
Giai đoạn 2029-2030 sẽ xem xét bổ sung một số dự án nhiệt điện than mới với quy mô 5.300 MW và có lộ trình lắp kèm hệ thống thu giữ carbon (CCS) tại Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Trị, Cần Thơ.
Bổ sung nguồn điện gió, điện mặt trời tại các địa phương có tiềm năng tốt, có đặc tính phát phù hợp với yêu cầu của hệ thống điện. Đảm bảo tiến độ đưa vào vận hành điện mặt trời tập trung năm 2029 là 5.500 MW và năm 2030 là 3.000 MW; còn điện gió trên bờ và gần bờ tương ứng là 4.000 MW và 3.000 MW.
Dẫu vậy thì với thực tế đang diễn ra tại các dự án điện đã có trong Quy hoạch điện VIII cũng đặt ra câu hỏi việc bổ sung thêm hàng nghìn MW mới vào quy hoạch có đồng nghĩa với nhanh chóng có thêm hàng nghìn MW điện cho hệ thống hay không.
Thực trạng đầu tư các dự án điện hiện nay cho thấy, dự án điện từ khi xuất hiện trong quy hoạch đến lúc phát điện còn phải đi qua hàng loạt cửa ải: địa điểm, đất đai, lựa chọn nhà đầu tư, chủ trương đầu tư, đánh giá tác động môi trường, thu xếp vốn, hợp đồng mua bán điện, nhiên liệu, giải phóng mặt bằng, xây dựng đường dây đấu nối... Chỉ cần một mắt xích chậm, cả dự án có thể chậm vài năm.
Bởi vậy, các giải pháp được đưa ra sẽ cần phải giải quyết được bài toán đang tồn tại hiện nay là đất đai, vốn, giá điện, hợp đồng mua bán điện, nhiên liệu và lưới truyền tải. Bởi nếu không, dự án điện dù được bổ sung vào lớn nhưng khả năng hoàn thành đầu tư và đưa vào vận hành phát điện vẫn còn nhiều thách thức.

