Theo dấu dòng tiền để chặn đứng tín dụng 'sân sau'
Vietnamfinance
· 14 giờ trước
Theo dấu dòng tiền để chặn đứng tín dụng “sân sau”Khánh Tú-19/08/2026 09:30 (GMT+7)(VNF) - Gần 4 năm trôi qua kể từ biến cố vào năm 2022, SCB vẫn chật vật trong diện kiểm soát đặc biệt. Đại án này là minh chứng rõ nét cho thấy hậu quả của thực trạng ngân hàng cho vay “sân sau”. Điều đáng lo ngại là dù hành lang pháp lý sau đó đã được siết chặt, trên thị trường vẫn còn đâu đó những nhà băng mang đậm dấu ấn cá nhân mà ở đó chỉ cần nhắc tên, giới tài chính có thể chỉ đích danh một “ông chủ” giấu mặt cùng mạng lưới công ty vệ tinh chằng chịt xoay quanh.Cho vay “sân sau” biến tướngLà người từng đảm nhiệm các vị trí then chốt như Thành viên Hội đồng Quản trị độc lập tại Ngân hàng TMCP Đại Dương (OceanBank), Phó Tổng Giám đốc tại Ngân hàng Xây dựng (VNCB) và cố vấn chiến lược của nhiều ngân hàng, TS Nguyễn Trí Hiếu thừa nhận bất chấp hai thập kỷ sửa luật, tình trạng ngân hàng cho vay “sân sau” vẫn đang tồn tại với mức độ tinh vi ngày càng tăng.“Cái gọi là ‘sân trước - sân sau’ giờ đây hiếm khi còn thể hiện bằng những đường dây sở hữu trực tiếp, dễ nhận diện trên hồ sơ mà đã ẩn sau một mạng lưới cá nhân, doanh nghiệp và công ty trung gian rất phức tạp”, ông chia sẻ với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance.Đi sâu vào phân tích, ông Hiếu cho biết hiện tượng ẩn mình tinh vi này chủ yếu được thực hiện qua ba phương thức lách luật bài bản.Đầu tiên là chia nhỏ quyền sở hữu qua người đứng tên hộ và sở hữu chéo nhiều tầng. Luật Các tổ chức tín dụng qua các lần sửa đổi đã siết tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một cá nhân, một tổ chức và nhóm người có liên quan tại một ngân hàng.Theo TS Nguyễn Trí Hiếu,tình trạng ngân hàng cho vay “sân sau” vẫn đang tồn tại với mức độ tinh vi ngày càng tăng.“Về lý thuyết, quy định này đủ chặt để một ông chủ không thể một mình nắm quyền chi phối. Nhưng trên thực tế, người sở hữu thật có thể không đứng tên trực tiếp mà nhờ hàng chục cá nhân khác nhau, có thể là người thân, nhân viên, hoặc những người hoàn toàn không có quan hệ huyết thống nhưng chịu sự chi phối ngầm đứng tên hộ cổ phần.Cổ phần này lại được chia nhỏ ra để mỗi người đứng tên đều nằm dưới ngưỡng phải công bố hoặc dưới trần sở hữu cá nhân, rồi các cổ đông đứng tên đó lại sở hữu chéo lẫn nhau qua nhiều lớp công ty trung gian. Kết quả là nhìn vào danh sách cổ đông công bố, cơ quan quản lý sẽ không thấy bất kỳ ai vượt trần, nhưng nếu gộp toàn bộ nhóm liên quan lại thì quyền chi phối tuyệt đối vẫn nằm trong tay một người hoặc một nhóm nhỏ duy nhất”, ông nhận định.Theo TS Nguyễn Trí Hiếu, vụ án Vạn Thịnh Phát – SCB là minh chứng cụ thể nhất cho lớp ẩn mình này. Kết quả điều tra cho thấy nhóm chi phối không đứng tên trực tiếp mà nhờ hàng chục người khác nhau đứng tên cổ phần tại nhiều ngân hàng riêng lẻ trước khi ba ngân hàng này hợp nhất thành SCB, và sau hợp nhất lại tiếp tục nhờ thêm nhiều người đứng tên mới. Trên giấy tờ, không một cá nhân nào, kể cả người đứng đầu tập đoàn, sở hữu cổ phần vượt trần quy định, thậm chí gần như không đứng tên sở hữu trực tiếp cổ phần nào cả. Nhưng khi cộng gộp toàn bộ mạng lưới người đứng tên, nhóm này nắm quyền chi phối tuyệt đối tại ngân hàng.Phương thức thứ hai là dựng lên mạng lưới công ty vệ tinh và khách hàng khống để rút vốn. Cũng trong vụ SCB, cơ quan điều tra đã làm rõ việc hình thành hàng trăm công ty vệ tinh và hồ sơ khách hàng khống chỉ để đứng tên vay vốn. Nhiều trong số này chỉ tồn tại trên giấy tờ đăng ký kinh doanh hoặc có hoạt động rất hạn chế, gần như không tạo ra dòng tiền kinh doanh thực, nhưng vẫn được giải ngân những khoản vay rất lớn. Số tiền sau khi giải ngân không đi vào các dự án được nêu trong hồ sơ tín dụng như cam kết, mà quay ngược trở lại phục vụ lợi ích của chính nhóm cổ đông chi phối ngân hàng.“Nhìn trên sổ sách, đây là những khách hàng vay độc lập, không liên quan đến nhau, không có gì bất thường nếu xét đơn lẻ. Nhưng khi ghép toàn bộ danh sách lại mới lộ ra rằng tất cả đều quy về một chủ thực sự, người vừa là chủ sở hữu ngầm của ngân hàng, vừa là người đi vay lớn nhất của chính ngân hàng đó”, ông Hiếu nhấn mạnh.Phương thức thứ ba, tinh vi hơn cả, là để dòng tiền lưu chuyển vòng vo giữa nhiều pháp nhân nhằm xóa dấu vết. Trong nghiệp vụ ngân hàng quốc tế gọi đây là credit tracking, tức truy vết dòng tín dụng từ người vay ban đầu đến người thụ hưởng cuối cùng. Ở chiều ngược lại, các hệ sinh thái sân sau lại cố tình làm phức tạp hóa đường đi của dòng tiền: một khoản vay có thể được giải ngân cho công ty A, sau đó chuyển sang công ty B dưới danh nghĩa hợp tác đầu tư, rồi tiếp tục luân chuyển qua công ty C trước khi thực sự đến tay người thụ hưởng cuối cùng.Vị chuyên gia cho biết mỗi lớp chuyển tiền đều có hợp đồng, hóa đơn, chứng từ hợp lệ về mặt hình thức, khiến cơ quan thanh tra nếu chỉ rà soát hồ sơ tín dụng của từng khoản vay riêng lẻ sẽ không thể phát hiện ra đường đi thực sự của dòng vốn.Để không còn “bắt cóc bỏ đĩa”Việc ngân hàng cho vay chính các bên liên quan của mình có thể là điểm khởi đầu của một chuỗi rủi ro lan tỏa ra toàn hệ thống.Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, dòng vốn dồn vào “sân sau” gây rủi ro tập trung khiến ngân hàng dễ chao đảo khi vài khách hàng lớn trục trặc, đồng thời tạo rủi ro tín dụng do chất lượng nợ suy giảm vì ưu ái ‘người nhà’ về lãi suất và điều kiện.Nhưng đáng lo ngại hơn, tác động không dừng ở nội bộ một ngân hàng. Ở góc độ vĩ mô, khi một lượng vốn lớn bị “khóa” trong mạng lưới lợi ích của một nhóm chủ ngân hàng, nguồn vốn cho phần còn lại của nền kinh tế bị thu hẹp, buộc lãi suất cho các khách hàng thông thường phải tăng lên để bù đắp rủi ro mà ngân hàng đang gánh từ các khoản vay sân sau.“Người thân hữu được hưởng lãi suất mềm trong khi doanh nghiệp làm ăn minh bạch nhưng không có quan hệ lại phải trả giá đắt hơn cho cùng một đồng vốn. Điều này đặc biệt đáng lo trong bối cảnh Chính phủ đang muốn đưa tăng trưởng tín dụng lên 15% để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai chữ số”, ông Hiếu nhấn mạnh.Ông Hiếu cho rằng,dòng vốn dồn vào “sân sau” gây rủi ro tập trung khiến ngân hàng dễ chao đảo.Ởgóc độ điều hành chính sách tiền tệ, theo ông Hiếu, khi chất lượng tài sản thực của ngân hàng bị che khuất bởi các khoản vay thiếu minh bạch, Ngân hàng Nhà nước rất khó đo lường đúng sức khỏe của hệ thống, khiến các công cụ điều hành như tăng trưởng tín dụng hay lãi suất có nguy cơ bị vô hiệu hóa một phần.Về dài hạn, đây cũng là mảnh đất nuôi dưỡng những tập đoàn “phình to” nhờ đòn bẩy ngân hàng nhưng nội lực yếu. Khi những tập đoàn này gặp biến cố sẽ tạo áp lực ngược trở lại lên chính hệ thống tài chính và ngân sách nhà nước phải gánh chi phí xử lý.Nhìn lại gần hai thập kỷ xử lý vấn đề sở hữu chéo ngân hàng - doanh nghiệp, vị chuyên gia cho rằng cách làm lâu nay vẫn mang tính “bắt cóc bỏ đĩa” và muốn dứt điểm thì không thể chỉ xử lý phần ngọn mà phải đi sâu vào từng vấn đề.TS Nguyễn Trí Hiếu đề xuất điều đầu tiên cần làm là chuyển trọng tâm giám sát từ tỷ lệ sở hữu trên danh nghĩa sang quyền kiểm soát thực tế. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã hạ giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng và nhóm khách hàng liên quan - một bước đi đúng hướng, nhưng chưa đủ nếu dòng tiền vẫn có thể lưu chuyển vòng vo qua các bên trung gian.“Các ngân hàng cần xây dựng quy trình theo dõi dòng tiền từ người vay đến người thụ hưởng cuối cùng, báo cáo lên hội đồng quản trị rồi lên Ngân hàng Nhà nước, đi kèm cơ chế công bố công khai các vi phạm nghiêm trọng và chế tài đủ mạnh”, ông gợi mở.Đề xuất thứ hai liên quan quản trị nội bộ và trách nhiệm cá nhân. Ông Hiếu cho rằng ngân hàng cần tách bạch bộ phận thẩm định tín dụng khỏi bộ phận kinh doanh, đồng thời không cho phép thành viên hội đồng tín dụng tham gia xét duyệt các khoản vay mà bản thân có liên quan.Vị chuyên gia này đã dẫn một điểm thú vị từ kinh nghiệm điều hành ở Mỹ. Cụ thể, quy định của Mỹ không cấm ngân hàng cho vay chủ tịch hội đồng quản trị hay cổ đông lớn, nhưng buộc các khoản vay đó phải tuân theo đúng điều kiện thị trường, từ lãi suất, tài sản bảo đảm đến thời hạn vay chứ không được hưởng bất kỳ ưu đãi nào. Theo ông, đây là hướng tiếp cận thực tế hơn so với việc cấm hoàn toàn nhưng lại dễ bị lách bởi vấn đề không phải là cho vay bên liên quan mà là cho vay bên liên quan dưới điều kiện ưu đãi.TS Nguyễn Trí Hiếu cũng chỉ ra cần giảm sự lệ thuộc của doanh nghiệp vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển thực chất thị trường vốn. Trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu phải thực sự trở thành kênh vốn trung và dài hạn chủ lực thay vì đẩy gánh nặng kỳ hạn trở lại ngân hàng vốn dĩ đã huy động phần lớn là tiền gửi ngắn hạn.Ngoài ra, ông Hiếu đề nghị bỏ cơ chế phân bổ room tín dụng riêng cho từng ngân hàng và chỉ duy trì trần tăng trưởng tín dụng chung cho toàn hệ thống để kiểm soát lạm phát và định hướng dòng vốn vào khu vực tạo giá trị gia tăng thực sự cho nền kinh tế. Ông cho rằng việc bỏ room tín dụng riêng kết hợp với áp dụng các “hệ số rủi ro” và các quy định khác sẽ tạo không gian để hệ thống ngân hàng tự điều chỉnh linh hoạt hơn, khuyến khích các ngân hàng ưu tiên rót vốn cho khu vực sản xuất, xuất khẩu, đổi mới công nghệ.“Kinh tế Việt Nam chỉ cất cánh khi dòng vốn đổ vào sản xuất và công nghệ thay vì chảy vào ‘túi sau’ của các ông chủ. Đất nước cần những tập đoàn minh bạch, thực lực, chứ không phải những thực thể ‘phệ vốn’ tạo ảo ảnh tăng trưởng. Nguồn lực tài chính phải được phân bổ đúng chỗ, chấm dứt việc làm giàu cho một nhóm lợi ích thiểu số”, TS Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh.Thanh tra và xử lý các ngân hàng cấp tín dụng cho doanh nghiệp 'sân sau'Thanh tra và xử lý các ngân hàng cấp tín dụng cho doanh nghiệp 'sân sau'Tiêu điểm(VNF) - Thủ tướng yêu cầu xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động ngân hàng, nhất là các hành vi thao túng, sở hữu chéo, cấp tín dụng cho các doanh nghiệp "sân sau".