Thị trường có thể đang dự báo sai về triển vọng lãi suất do cú sốc giá dầu

Tuy nhiên, một bài báo của tờ Wall Street Journal cho rằng đây có thể là đánh giá một sai lầm.
Các nhà hoạch định chính sách tiền tệ có thể đang lo lắng về việc lặp lại sai lầm của hồi năm 2021 khi họ phản ứng chậm chạp ở giai đoạn đầu của thời kỳ lạm phát tăng cao. Nhưng có một sự khác biệt căn bản giữa cú sốc năng lượng hiện này và sự leo thang của lạm phát hậu đại dịch Covid-19.
Lạm phát ngày nay chủ yếu do nguồn cung năng lượng toàn cầu bị thắt cho do chiến tranh ở Vùng Vịnh và việc eo biển Hormuz bị đóng cửa. Trong khi đó, lạm phát hồi năm 2021-2022 chủ yếu do nhu cầu tăng bùng nổ, khi người tiêu dùng 'rủng rỉnh' tiền kích cầu mạnh tay mua sắm sau giai đoạn phong tỏa chống dịch.
Khi ứng phó với sự gia tăng mạnh mẽ đó của nhu cầu, các ngân hàng trung ương đã dồn dập tăng lãi suất. Nhưng ngày nay, họ không có cách nào để xử lý sự gián đoạn nguồn cung dầu.
Trong khi đó, các nhà giao dịch đang phản ánh vào giá các tài sản vào khả năng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có 3 lần tăng lãi suất trong năm nay, mỗi lần tăng 0,25 điểm phần trăm. Họ cũng cho rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ giữ nguyên lãi suất, thay vì giảm lãi suất 2-3 lần như dự báo đưa ra trước chiến tranh. Đối với Ngân hàng Trung ương Anh (BOE), dự báo về số lần tăng lãi suất trong thời gian còn lại của năm nay là 3 lần, thay vì chỉ 1 lần như trước chiến tranh.
Bài báo của Wall Street Journal cho rằng những dự báo đó có thể sai, vì ba lý do bao gồm: yếu tố lịch sử, tác động tiêu cực của giá dầu cao đối với nền kinh tế, và mối đe dọa đối với nền kinh tế châu Âu là lớn hơn đối với nền kinh tế Mỹ.
KINH NGHIỆM LỊCH SỬ
Trước hết, cần nhìn lại lịch sử để thấy rằng các ngân hàng trung ương đã từng mắc sai lầm khi phản ứng quá mức với các cú sốc giá dầu.
Trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973-1974, Fed nhìn chung bị xem là bỏ qua hiệu ứng vòng hai của giá dầu cao, dẫn đến việc duy trì chính sách tiền tệ quá lỏng lẻo. Sai lầm này không xảy ra ở thời điểm giá dầu tăng - khi Fed tăng mạnh lãi suất để chống lạm phát, mà ở thời điểm giá dầu đã giảm và nền kinh tế suy thoái sâu. Fed đã mạnh tay nới lỏng chính sách để cứu tăng trưởng khi nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, nhưng sai lầm ở chỗ tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng ngay cả khi lạm phát lõi - thước đo không tính đến giá năng lượng và thực phẩm - không giảm xuống dưới 6%.
Ở châu Âu, ECB đã tăng mạnh lãi suất vào các năm 2008 và 2011, tập trung vào việc ứng phó với giá dầu thô tăng cao mà bỏ qua dấu hiệu rõ ràng về những vấn đề trong lĩnh vực tài chính. Và sau đó trong cả hai cuộc khủng hoảng, ECB đều phải nhanh chóng đảo ngược chính sách từ thắt chặt sang nới lỏng khi các ngân hàng sụp đổ và hệ thống đồng euro đứng trước nguy cơ tan rã.
Nói chung, những bài học từ lịch sử cho thấy việc tăng lãi suất để ứng phó với giá dầu cao có thể nhanh chóng dẫn tới một nền kinh tế yếu kém, với giá dầu giảm và lạm phát giảm.
Trên thị trường hàng hóa cơ bản, có một câu nói rằng 'phương thuốc' để chữa giá cao chính là mức giá cao. Giá cả hàng hóa như dầu thô tăng cao sẽ gây suy giảm nhu cầu và kích thích đầu tư tạo nguồn cung mới, dẫn tới kéo giá giảm xuống. Do đó, việc phản ứng quá mức bằng chính sách tiền tệ khi xảy ra các cú sốc giá dầu có thể sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực.
YẾU TỐ KỲ VỌNG LẠM PHÁT
Thứ hai, giá dầu cao giống như một loại thuế mới đánh vào người tiêu dùng và doanh nghiệp. Bởi thế, việc nâng lãi suất lên mức cao hơn kết hợp với giá dầu cao sẽ là một 'cú đánh kép' đối với người tiêu dùng và doanh nghiệp. Những người ủng hộ việc tăng lãi suất khi giá dầu tăng nói rằng làm như vậy là để tránh lạm phát cao hơn trở thành kỳ vọng của người tiêu dùng và doanh nghiệp, dẫn đến yêu cầu tăng lương cao hơn và một vòng xoáy giá cả đi lên.
Tuy nhiên, bài báo của Wall Street Journal cho rằng vòng xoáy đó chỉ có thể xuất hiện nếu người lao động và doanh nghiệp có năng lực thương lượng, tức là nếu số lượng việc làm dồi dào và người tiêu dùng sẵn sàng chi tiêu. Thị trường lao động Mỹ đang vững vàng - như báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 3 công bố vào tuần trước cho thấy - nhưng đó là trước khi tác động của giá dầu cao bắt đầu ngấm vào nền kinh tế.
Khi số lượng công việc ít đi, người lao động sẽ giảm bớt ý định dọa nghỉ việc để đòi được tăng lương. Người tiêu dùng lo lắng về việc mất việc làm sẽ vay mượn và chi tiêu ít hơn. Các công ty đối mặt với nhu cầu yếu hơn sẽ không thể dễ dàng tăng giá.
Những dấu hiệu ban đầu đã cho thấy người tiêu dùng Mỹ hiểu rõ vấn đề.
Trong cuộc khảo sát tâm lý người tiêu dùng của Đại học Michigan thực hiện trong tháng 3, những người được khảo sát trước khi chiến tranh nổ ra cho thấy tâm lý lạc quan hơn nhiều về nền kinh tế và kỳ vọng mức lạm phát thấp hơn so với những người được khảo sát sau đó. Tuy nhiên, cả hai nhóm đều kỳ vọng lạm phát ngắn hạn cao hơn, nhưng lạm phát dài hạn thấp hơn. Ngay cả những người được khảo sát sau khi chiến tranh bắt đầu cũng kỳ vọng mức lạm phát dài hạn thấp hơn so với kỳ vọng ở thời điểm sau khi Tổng thống Donald Trump áp thuế quan đối ứng vào tháng 4 năm ngoái.
Thị trường cũng hiểu rõ điều này. Các nhà đầu tư kỳ vọng lạm phát sẽ cao hơn nhiều trong năm tới. Nhưng dự báo của thị trường trái phiếu về lạm phát trong 5 năm bắt đầu từ mỗi năm trong 5 năm tới là không đổi kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Một cú sốc nguồn cung có thể làm suy giảm tăng trưởng kinh tế, và về lâu dài, điều đó có nghĩa là áp lực lạm phát giảm đi.
KỲ VỌNG LÃI SUẤT NÊN ĐẢO NGƯỢC?
Vấn đề thứ ba cần đề cập đến ở đây là nhà đầu tư đang kỳ vọng một loạt các đợt tăng lãi suất của ECB và BOE, trong khi dự báo Fed giữ nguyên trong năm nay. Bài báo của Wall Street Journal cho rằng lẽ ra, nhà đầu tư nên kỳ vọng ngược lại.
Bởi lẽ, Mỹ là nước xuất khẩu năng lượng ròng, do đó Mỹ sẽ hưởng lợi ích kinh tế từ giá dầu cao hơn (mặc dù lợi ích này có thể không đủ để bù đắp được thiệt hại đối với người tiêu dùng). Châu Âu và Anh là những nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng, và do đó, về nguyên tắc, sẽ chịu tác động lớn hơn đến nền kinh tế. Tác động lớn hơn đó nên có nghĩa là ECB và BOE nên tăng lãi suất ít hơn Fed, thay vì nhiều hơn như thị trường đang kỳ vọng.
Tuy nhiên, có những lưu ý quan trọng ở đây. Thị trường nhiều khi đúng, và có hai lý do chính đáng để các ngân hàng trung ương tăng lãi suất, hoặc trong trường hợp của Fed là từ bỏ kế hoạch hạ lãi suất.
Thứ nhất, về mặt tâm lý, các ngân hàng trung ương có thể cảm thấy họ cần phải được xác nhận là có hành động ứng phó khi lạm phát trỗi dậy. Các ngân hàng trung ương phương Tây, nhất là Fed, vẫn chưa quên việc họ bị chỉ trích vì đã phản ứng chậm chạp khi lạm phát bắt đầu leo thang vào năm 2021.
Và thứ hai, nền kinh tế Mỹ vẫn có thể vượt qua được những tác động tiêu cực của giá dầu cao để viết tiếp câu chuyện tăng trưởng.
Những doanh nghiệp đầu tư lớn vào các trung tâm dữ liệu để thúc đẩy sự bùng nổ trí tuệ nhân tạo (AI) đã cho thấy họ không quan tâm nhiều đến chi phí tăng vọt cho các bộ phận quan trọng như chip và máy phát điện. Do đó, giá dầu cao cũng khó có thể cản bước họ. Ngoài ra, người tiêu dùng giàu có hơn có thể tiếp tục chi tiêu thoải mái bằng lợi nhuận mà họ đã kiếm được từ thị trường chứng khoán. Những động lực này có thể hỗ trợ nền kinh tế ngay cả khi các tài xế gặp khó khăn với giá xăng dầu.
Tuy nhiên, tác giả bài viết cho rằng sẽ khó có chuyện các nền kinh tế không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi giá dầu tăng tới mức đủ để đẩy cao lạm phát.
-An Huy
]]>