PGS-TS. Đinh Xuân Thảo
Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính lần này không chỉ là tinh gọn bộ máy, mà còn là tái cấu trúc không gian phát triển. Theo ông, ý nghĩa lớn nhất của chủ trương này là gì?
Tôi cho rằng, nếu chỉ nhìn việc sắp xếp đơn vị hành chính như một biện pháp giảm đầu mối tổ chức, thì cách tiếp cận đó còn khá hẹp. Ý nghĩa sâu xa hơn của chủ trương này chính là tạo cơ hội để Việt Nam thiết kế lại không gian phát triển kinh tế theo một tư duy mới, phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới và xu thế cạnh tranh toàn cầu.
Trong nhiều thập niên qua, mô hình phát triển của chúng ta phần nào bị chi phối bởi địa giới hành chính mang tính lịch sử, trong khi kinh tế hiện đại lại vận hành theo logic của liên kết vùng, chuỗi cung ứng, hệ thống logistics và các cực tăng trưởng. Điều này dẫn tới thực tế là, nhiều địa phương có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế, khó hình thành các trung tâm kinh tế đủ sức cạnh tranh do phân tán đầu tư, trùng lặp quy hoạch, thậm chí có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong thu hút dự án.
Việc giảm số lượng đơn vị cấp tỉnh giúp mở rộng không gian phát triển, tạo ra các thực thể kinh tế có quy mô lớn hơn, từ đó có điều kiện quy hoạch dài hạn, thu hút đầu tư lớn và tổ chức lại các ngành kinh tế theo hướng hiệu quả hơn. Số lượng cấp tỉnh giảm gần một nửa không chỉ giúp mở rộng quy mô không gian phát triển, mà còn tạo điều kiện hình thành những thực thể kinh tế có quy mô đủ lớn để cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế. Một tỉnh sau sáp nhập có thể có dân số vài triệu người, GRDP tương đương một nền kinh tế trung bình trên thế giới, như vậy sẽ có điều kiện để quy hoạch bài bản hơn về công nghiệp, dịch vụ, đô thị và hạ tầng.
Đặc biệt, việc tổ chức lại chính quyền địa phương theo hướng giảm tầng nấc trung gian (quận, huyện) không chỉ giảm chi phí hành chính, mà còn nâng cao hiệu quả quản trị, rút ngắn quá trình ra quyết định và tăng tính phản ứng chính sách. Quan trọng hơn, điều này giúp chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị phát triển.
Tôi cho rằng, việc sắp xếp đơn vị hành chính lần này thực chất là một cuộc cải cách thể chế phát triển, chứ không đơn thuần là một cuộc cải cách hành chính.
![]() |
| Hà Nội chính là bài học quý để các địa phương trên cả nước thay đổi tư duy phát triển sau khi sáp nhập |
Theo ông, điều quan trọng nhất sau sáp nhập là gì để tránh tình trạng chỉ là phép cộng cơ học mà chưa tạo ra động lực phát triển mới?
Nếu chỉ sáp nhập về mặt địa giới mà không thay đổi tư duy phát triển, thì sẽ không đạt được mục tiêu lớn nhất của cải cách này. Theo tôi, có 3 chuyển đổi tư duy cần thực hiện.
Thứ nhất, chuyển từ tư duy 'địa phương độc lập' như nhiều đại biểu Quốc hội từng nói vui 'mỗi địa phương là một nền kinh tế' sang tư duy 'vùng kinh tế tích hợp'. Sau khi sáp nhập, không thể tiếp tục tư duy mỗi địa phương cũ là một trung tâm phát triển riêng, mà phải xác định rõ vai trò từng khu vực trong cấu trúc phát triển tổng thể: đâu là trung tâm công nghiệp, đâu là trung tâm logistics, đâu là vùng nông nghiệp công nghệ cao, đâu là không gian sinh thái.
Thứ hai, chuyển tư duy từ 'xin dự án' sang 'tạo hệ sinh thái đầu tư'. Các địa phương lớn sau sáp nhập cần tập trung vào xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, hạ tầng đồng bộ, nguồn nhân lực chất lượng cao, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi đơn lẻ.
Thứ ba, chuyển từ tư duy tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây mới là nền tảng để tăng trưởng bền vững.
Nếu làm tốt 3 chuyển đổi trên, việc sáp nhập sẽ không phải là phép cộng đơn giản 'một cộng một bằng hai', mà sẽ tạo ra hiệu ứng 'một cộng một phải lớn hơn hai'.
Chúng ta đã nhiều lần sáp nhập, chia tách, nhưng chỉ thuần về quản lý hành chính. Lần này, việc sáp nhập là 'thay đổi tư duy phát triển' thì chưa có kinh nghiệm?
Việt Nam đã trải qua nhiều đợt sắp xếp, chia tách và sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh từ năm 1975 đến nay để phù hợp với yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế - xã hội. Nổi bật là việc sáp nhập các tỉnh với quy mô lớn vào năm 1976, cả nước đã giảm từ 72 tỉnh, thành trước đó xuống còn 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Cuộc sắp xếp đơn vị hành chính thời kỳ này mang ý chí chủ quan chính trị, muốn làm 'cuộc cách mạng đại nhảy vọt' tương tự sáp nhập các hợp tác xã để trở thành 'hợp tác xã toàn xã'. Với tư duy rất đơn giản của ngày ấy là nhiều hợp tác xã yếu hợp lại sẽ trở thành một hợp tác xã mạnh, nhiều hợp tác xã mạnh hợp lại trở thành hợp tác xã mạnh hơn.
Phong trào hợp tác xã toàn xã được thực hiện đồng bộ ở miền Bắc trước năm 1975 và được triển khai ở miền Nam sau khi Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng đến giữa thập niên 1980, mô hình này bộc lộ hạn chế: năng suất thấp, thiếu động lực cá nhân, cơ chế bao cấp trì trệ, vì thế, Đảng và Nhà nước đã đưa ra bước ngoặt lịch sử là thực hiện Khoán 10 vào năm 1988. Điều này cho thấy, chúng ta không hề duy ý chí, mà tuân theo quy luật của sự phát triển.
Tương tự, thời kỳ đó, trình độ dân trí và cả đội ngũ lãnh đạo ở địa phương còn hạn chế, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông và công nghệ thông tin quá lạc hậu, với quy mô cấp tỉnh quá lớn đã tạo ra rào cản của sự phát triển, trì trệ. Thậm chí, ở miền Nam, nhiều vùng nông thôn còn lạc hậu hơn so với trước năm 1975.
Với thành công của Khoán 10 và tư duy đổi mới, Đảng và Nhà nước quyết định phân chia các tỉnh, thành phố bắt đầu từ năm 1991. Lần cuối cùng thực hiện chia tách tỉnh được thực hiện vào năm 2004 bằng việc chia tách các tỉnh Cần Thơ, Đắk Nông và khi đó cả nước có 64 đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Kết quả của việc chia tách đó là phù hợp quản lý địa phương, tăng cạnh tranh và năng động kinh tế vùng, kinh tế từng địa phương, từng vùng và cả nước phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiện.
Nhưng đó là sự 'thay đổi tư duy phát triển' sau khi chia tách, chứ không phải sáp nhập, thưa ông?
Với Hà Nội là trung tâm kinh tế lớn thứ hai của cả nước, trước năm 2008 có diện tích quá nhỏ so với nhu cầu, thiếu không gian và động lực, như một cơ thể đang lớn bị kìm nén trong chiếc áo quá chật. Trong khi đó, Hà Tây có không gian, tiềm năng nhưng thiếu động lực. Vì vậy, căn cứ Tờ trình của Chính phủ, Nghị quyết của Đảng, Quốc hội khóa XII đã quyết định sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội năm 2008.
Sau đó, Hà Nội mới đã phát triển mạnh mẽ nhờ tận dụng, khai thác tối đa thế mạnh của 2 địa phương cũ. Nếu không sáp nhập, thì Hà Nội và cả Hà Tây chắc chắn vẫn phát triển, nhưng khu vực Hà Nội, bao gồm cả Hà Nội cũ và Hà Tây, không thể có được 'cơ đồ và tiềm lực như ngày nay'.
Hà Nội đang xây dựng Quy hoạch Tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm với các đô thị quanh trung tâm đều nằm ở địa bàn Hà Tây cũ và huyện Mê Linh cũ. Nếu không sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội, thì không bao giờ làm được. Vì vậy, đúng là chúng ta chưa có kinh nghiệm 'thay đổi tư duy phát triển' sau khi sáp nhập, nhưng Hà Nội chính là kinh nghiệm, là bài học quý để các địa phương trên cả nước thay đổi tư duy phát triển sau khi sáp nhập.
'Thay đổi tư duy phát triển', chuyển từ tư duy quản lý địa giới hành chính sang tư duy quản trị không gian phát triển là vấn đề sống còn. Nếu sáp nhập mà không thay đổi tư duy phát triển, thì rất khó tạo ra đột phá.
Nhiều ý kiến cho rằng, chỉ sau một thời gian ngắn 'sắp xếp lại giang sơn', đã và đang xuất hiện các cực tăng trưởng mới. Quan điểm của ông thế nào?
Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm này. Một trong những hạn chế của mô hình phát triển trước đây là nhiều địa phương quá nhỏ để hình thành các cực tăng trưởng thực sự. Ví như Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Thái Bình... có diện tích 800 - 1.000 km2, nên không gian phát triển hạn chế. Nhìn chung, hầu hết các địa phương trước sáp nhập có quy mô thị trường hạn hẹp, nguồn lực ngân sách hạn chế và quỹ đất công nghiệp phân tán khiến khó thu hút các dự án lớn mang tính dẫn dắt.
Sau khi sáp nhập, quy mô kinh tế tỉnh nào cũng tăng lên đáng kể. Điều này cho phép quy hoạch các trung tâm kinh tế có tính chuyên môn hóa cao, như trung tâm công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn; trung tâm logistics gắn với cảng biển, sân bay; trung tâm tài chính hoặc dịch vụ; trung tâm đổi mới sáng tạo... - những yếu tố có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng. Khi quy mô đủ lớn, địa phương có thể thu hút các tập đoàn đa quốc gia với những dự án hàng tỷ USD - điều mà nhiều tỉnh nhỏ trước đây khó làm được.
Ngoài ra, việc mở rộng địa giới cũng giúp giải quyết một vấn đề rất thực tế là kết nối hạ tầng. Nhiều tuyến đường trước đây trải qua nhiều địa phương, nên mất nhiều thời gian phối hợp thực hiện. Khi thu gọn đầu mối hành chính, việc quy hoạch và đầu tư sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.
Trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia, những bước ngoặt lớn thường gắn với các cải cách về thể chế và tổ chức không gian phát triển. Việt Nam đang đứng trước một cơ hội tương tự. Điều quan trọng là các địa phương cần nhanh chóng xây dựng quy hoạch tích hợp, xác định rõ các cực tăng trưởng và hành lang kinh tế để tận dụng lợi thế quy mô.

