Nông sản - Thực phẩm

Trồng nấm từ phụ phẩm nông, lâm nghiệp, nâng tầm thương hiệu nông sản Việt

Vneconomy
· 18 giờ trước

Từ những cành keo, bồ đề, lõi ngô và phụ phẩm nông, lâm nghiệp, một chuỗi sản xuất nấm hữu cơ đang được hình thành tại xã Hương Cần, tỉnh Phú Thọ. Không chỉ tạo ra sản phẩm sạch, mô hình còn mở rộng sinh kế cho người dân, thúc đẩy chế biến sâu và từng bước nâng giá trị, xây dựng thương hiệu cho nông sản địa phương.

Quy trình sản xuất nấm của Công ty cổ phần Nấm 3F theo nguyên tắc '3F': Feed - Farm - Food, từ nguyên liệu sạch, sản xuất giống đến trang trại và thực phẩm. Ảnh: Huỳnh Dũng
Quy trình sản xuất nấm của Công ty cổ phần Nấm 3F theo nguyên tắc '3F': Feed - Farm - Food, từ nguyên liệu sạch, sản xuất giống đến trang trại và thực phẩm. Ảnh: Huỳnh Dũng

Hương Cần là xã miền núi của tỉnh Phú Thọ, nơi hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc Mường. Nông nghiệp lâu nay chủ yếu dựa vào cây lúa, ngô, sắn và rừng trồng với diện tích keo, bồ đề khá lớn.

Đây cũng là khu vực có nguồn phụ phẩm nông, lâm nghiệp dồi dào nhưng giá trị khai thác chưa cao.

TỪ PHỤ PHẨM NÔNG, LÂM NGHIỆP ĐẾN CHUỖI NẤM HỮU CƠ

Từ chính nguồn nguyên liệu tưởng như ít giá trị ấy, một hướng sản xuất mới đang dần hình thành: tận dụng cành keo, bồ đề, lõi ngô và các phụ phẩm khác để làm giá thể trồng nấm hữu cơ. Sau chu kỳ sản xuất, phần giá thể đã qua sử dụng tiếp tục có thể chuyển sang phục vụ trồng rau an toàn, từng bước hình thành vòng tuần hoàn của nguyên liệu trong nông nghiệp.

Phòng nghiên cứu nấm của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng
Phòng nghiên cứu nấm của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng

Cách làm này cho thấy giá trị của nông nghiệp không chỉ được đo bằng sản lượng cuối cùng. Khi phụ phẩm được đưa trở lại chuỗi sản xuất, nguồn tài nguyên tại chỗ được sử dụng hiệu quả hơn, chất thải được hạn chế, đồng thời một chuỗi sản xuất mới có thể tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.

Từ một trang trại nhỏ tại Ba Vì, Hà Nội, Công ty cổ phần Nấm 3F đã lựa chọn Hương Cần để xây dựng cơ sở sản xuất. Một trong những lợi thế của địa phương là nguồn nguyên liệu tương đối dồi dào từ cành keo, bồ đề và các phụ phẩm nông nghiệp, phù hợp để làm giá thể trồng nấm.

Quy trình cấy giống của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng
Quy trình cấy giống của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng

Ông Mai Văn Hưng, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Sản xuất Công ty cổ phần Nấm 3F cho biết khác với việc phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống nhập khẩu, doanh nghiệp đã tự nghiên cứu và phân lập thành công hơn 20 loại giống nấm chủ lực.

Việc chủ động nguồn giống giúp doanh nghiệp kiểm soát chất lượng đầu vào, giảm chi phí và chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất.

Theo ông Hưng, cùng với chủ động về giống, doanh nghiệp đang ứng dụng công nghệ nuôi trồng nấm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, đồng thời đầu tư cho khâu chế biến sâu nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Nấm thành phẩm của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng
Nấm thành phẩm của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng

Quy trình sản xuất của doanh nghiệp được tổ chức theo nguyên tắc '3F': Feed - Farm - Food, từ nguyên liệu sạch, sản xuất giống đến trang trại và thực phẩm.

Cành keo, bồ đề, lõi ngô và các phụ phẩm nông, lâm nghiệp được nghiền nhỏ, ủ, hấp tiệt trùng bằng hơi nước trước khi đưa vào làm giá thể. Quá trình nuôi trồng không sử dụng hóa chất kích thích và chất bảo quản.

Như vậy, giá trị của cây nấm không bắt đầu từ thời điểm thu hoạch mà được hình thành ngay từ khâu giống và nguyên liệu đầu vào. Đây cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định nếu doanh nghiệp muốn xây dựng một thương hiệu nông sản ổn định thay vì chỉ đưa ra thị trường những sản phẩm mang tính thời vụ.

Nấm thành phẩm. Ảnh: Huỳnh Dũng
Nấm thành phẩm. Ảnh: Huỳnh Dũng

Anh Nguyễn Minh Quyết, Công ty cổ phần Nấm 3F cho biết khâu lựa chọn nguyên liệu đầu vào được thực hiện khá kỹ nhằm tránh ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Điều này rất quan trọng bởi nấm khá nhạy cảm với môi trường và nguyên liệu nuôi trồng.

Công nghệ cũng được đưa sâu hơn vào quá trình chăm sóc. Theo anh Quyết, các khu vực nuôi trồng được kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm tự động. Hệ thống cảm biến liên tục theo dõi điều kiện môi trường; khi nhiệt độ vượt ngưỡng, hệ thống phun sương và quạt đối lưu sẽ tự động vận hành để đưa môi trường trở về mức phù hợp.

Ảnh: Huỳnh Dũng
 Ảnh: Huỳnh Dũng 

Việc đưa công nghệ vào sản xuất đang làm thay đổi phương thức canh tác vốn quen thuộc ở một vùng miền núi. Thay cho việc sản xuất chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, các yếu tố từ giống, nguyên liệu, nhiệt độ đến độ ẩm được kiểm soát ngay từ đầu.

Đây cũng chính là nền móng của thương hiệu. Trong thị trường thực phẩm ngày càng cạnh tranh, một sản phẩm khó tạo dựng niềm tin lâu dài nếu chất lượng thiếu ổn định hoặc người tiêu dùng không biết sản phẩm được làm ra từ đâu, theo quy trình nào.

Thương hiệu nông sản vì thế trước hết phải được xây dựng bằng chất lượng sản phẩm và khả năng kiểm soát cả chuỗi sản xuất.

TẠO SINH KẾ NGAY TRÊN QUÊ HƯƠNG

Từ góc độ địa phương, ông Khuất Hồng Quân, Phó Chủ tịch UBND xã Hương Cần, cho biết phát triển nông nghiệp là một trong những mục tiêu được địa phương đặc biệt quan tâm. Trong nhiệm kỳ 2025-2030, xã xác định phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững là một hướng đi quan trọng.

Theo ông Quân, mô hình trồng nấm còn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Phụ phẩm từ cây trồng, cây lâm nghiệp được tận dụng làm nguyên liệu sản xuất nấm; sau khi thu hoạch, giá thể tiếp tục có thể chuyển sang phục vụ sản xuất rau an toàn, qua đó tạo thành một chu trình nông nghiệp tuần hoàn.

Du khách du lịch trải nghiệm tại trại trồng nấm của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng
Du khách du lịch trải nghiệm tại trại trồng nấm của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng

Không chỉ là câu chuyện xử lý phụ phẩm, yêu cầu về môi trường của cây nấm cũng đang tác động ngược trở lại cách thức sản xuất xung quanh. Nấm cần môi trường sạch, hạn chế tối đa hóa chất bảo vệ thực vật. Khi một sản phẩm sạch đòi hỏi môi trường xung quanh cũng phải sạch hơn, giá trị của mô hình không còn bó hẹp bên trong một nhà trồng nấm.

Một trong những ý nghĩa đáng chú ý của mô hình tại Hương Cần là chuỗi sản xuất không chỉ nằm trong phạm vi doanh nghiệp mà đang từng bước mở rộng đến các hộ dân.

Tại trại trồng nấm của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng
Tại trại trồng nấm của Công ty cổ phần Nấm 3F. Ảnh: Huỳnh Dũng

Doanh nghiệp xây dựng mô hình farm nhiều cấp, trong đó ở cấp hộ gia đình sẽ cung ứng giá thể giống, hỗ trợ kỹ thuật cho người dân có nhu cầu liên kết sản xuất và từng bước kết nối đầu ra cho sản phẩm.

Theo ông Khuất Hồng Quân, địa phương đang phối hợp với doanh nghiệp triển khai các mô hình trồng nấm cho người dân. Trong thời gian tới, xã định hướng mở rộng tới hộ nghèo, hộ cận nghèo, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm phát triển sinh kế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Trước mắt, khoảng 10 hộ dân đang chuẩn bị tham gia mô hình.

Điểm đáng chú ý là công việc trồng nấm không nhất thiết đòi hỏi diện tích đất lớn hoặc sức lao động nặng như một số loại hình sản xuất nông nghiệp khác. Điều đó mở ra cơ hội tham gia cho nhiều nhóm lao động ở nông thôn, từ thanh niên tới người lớn tuổi hoặc những người có sức khỏe hạn chế.

Câu chuyện của gia đình anh Đặng Văn Quang, thôn Lịch, xã Hương Cần, là một ví dụ. Trước đây anh làm nghề cơ khí, nhưng sau một tai nạn phải trở về địa phương. Biết đến mô hình trồng nấm thông qua doanh nghiệp, anh bắt đầu tìm hiểu, đưa phôi nấm về nuôi từ tháng 9/2025.

Anh Đặng Văn Quang, thôn Lịch, xã Hương Cần cho biết: Việc trồng nấm đã tạo thêm nguồn thu thường xuyên. Ảnh: Huỳnh Dũng
Anh Đặng Văn Quang, thôn Lịch, xã Hương Cần cho biết: Việc trồng nấm đã tạo thêm nguồn thu thường xuyên. Ảnh: Huỳnh Dũng 

Theo anh Quang, công việc phù hợp với điều kiện gia đình bởi ngay cả bố mẹ đã lớn tuổi cũng có thể cùng tham gia. Trong quá trình nuôi trồng, doanh nghiệp thường xuyên cử người hỗ trợ và trao đổi kỹ thuật khi gia đình gặp vấn đề. 'Với gia đình tôi thì mô hình này phù hợp. Ông bà đã có tuổi vẫn có thể làm được', anh Quang chia sẻ.

Quy mô hiện tại của gia đình chưa lớn, song việc trồng nấm đã tạo thêm nguồn thu thường xuyên. Lượng nấm làm ra chủ yếu được bán tại chợ và khu vực xung quanh bởi sản lượng chưa đủ lớn để cung ứng ổn định cho doanh nghiệp. Từ kết quả ban đầu, gia đình anh đang tiếp tục mở rộng quy mô.

Một thay đổi khác cũng diễn ra trong chính cách gia đình tổ chức sản xuất. Anh Quang cho biết từ khi trồng nấm, gia đình gần như không sử dụng thuốc trừ sâu, kể cả đối với ngô, rau hay chè trồng xung quanh. Việc giữ môi trường sạch trở thành yêu cầu trực tiếp để bảo đảm khu vực nuôi nấm không bị tác động.

Ở quy mô doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hiện tạo việc làm cho hàng chục lao động địa phương, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, với mức thu nhập khoảng 7-9 triệu đồng/người/tháng.

MUỐN NÂNG TẦM THƯƠNG HIỆU, KHÔNG THỂ CHỈ BÁN NẤM TƯƠI

Theo ông Khuất Hồng Quân, trước đây một bộ phận lao động địa phương phải đi làm ăn xa và thu nhập không ổn định. Khi mô hình trồng nấm được triển khai, thanh niên cũng như những người đã lớn tuổi nhưng vẫn có khả năng lao động có thêm cơ hội tìm việc tại địa phương.

Điều đáng chú ý hơn là sự thay đổi trong tư duy sản xuất. Nếu trước đây người dân chủ yếu quen với cây ngô, cây lúa, cây sắn và cây lâm nghiệp, thì nay họ từng bước tiếp cận cây nấm như một sản phẩm hàng hóa có yêu cầu cụ thể về giống, kỹ thuật, chất lượng và đầu ra.

Nấm thành phẩm của gia đình anh Đặng Văn Quang. Ảnh: Huỳnh Dũng
Nấm thành phẩm của gia đình anh  Đặng Văn Quang. Ảnh: Huỳnh Dũng

Từ góc độ dân sinh, đây có lẽ mới là giá trị lâu dài của mô hình. Một phương thức sản xuất chỉ thực sự bền vững khi không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tạo được sinh kế đủ ổn định để người dân có thể sống và làm việc trên chính quê hương mình.

Khi lao động không phải rời quê tìm việc, lợi ích mang lại cũng không chỉ là mức lương hàng tháng. Người dân giảm được chi phí đi lại, có điều kiện chăm sóc gia đình, trong khi địa phương giữ được lực lượng lao động phục vụ sản xuất.

Bài toán nâng giá trị cây nấm không dừng lại ở khâu nuôi trồng. Chị Nguyễn Thị Hà, Công ty cổ phần Nấm 3F, cho rằng nâng cao chuỗi giá trị phải được nhìn từ 'trang trại đến bàn ăn', thay vì chỉ sản xuất nấm rồi bán thô qua thương lái.

Theo đó, doanh nghiệp đã chuẩn hóa khâu sơ chế, đóng gói và xây dựng thương hiệu. Sản phẩm xuất xưởng được gắn tem truy xuất nguồn gốc, đồng thời hệ thống quản lý chất lượng được xây dựng theo tiêu chuẩn ISO.

Nấm thành phẩm. Ảnh: Huỳnh Dũng
Nấm thành phẩm. Ảnh: Huỳnh Dũng

Việc truy xuất nguồn gốc ngày càng có ý nghĩa trong bối cảnh người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn tới xuất xứ thực phẩm. Một cây nấm được bán trên thị trường không chỉ cần ngon hay có hình thức đẹp, mà người mua ngày càng muốn biết nguyên liệu từ đâu, được nuôi trồng như thế nào và sản phẩm đã trải qua những công đoạn kiểm soát nào.

Nhưng nếu chỉ dừng ở nấm tươi, dư địa tăng giá trị vẫn còn hạn chế. Nấm tươi có thời gian bảo quản tương đối ngắn, phụ thuộc nhiều vào khả năng tiêu thụ tức thời và khoảng cách từ vùng sản xuất tới thị trường.

Ông Mai Văn Hưng cho biết doanh nghiệp đang tiếp tục nâng cấp, mở rộng nhà xưởng theo hướng dây chuyền sản xuất khép kín, đáp ứng các yêu cầu phục vụ xuất khẩu. Bên cạnh nấm tươi, hướng phát triển tiếp theo là các dòng sản phẩm chế biến sâu như nấm sấy thăng hoa, bột nấm và nước cốt nấm dinh dưỡng.

Theo ông Hưng, mục tiêu của việc đa dạng hóa sản phẩm là gia tăng giá trị cây nấm, kéo dài thời gian bảo quản và từng bước tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao hơn.

Đây cũng là mắt xích quan trọng nếu muốn nâng tầm thương hiệu nông sản Việt. Một sản phẩm nông nghiệp nếu chỉ bán dưới dạng nguyên liệu thô sẽ khó tránh khỏi sức ép về giá mỗi khi nguồn cung tăng hoặc thị trường biến động. Ngược lại, khi nguyên liệu được chế biến thành nhiều dòng sản phẩm, giá trị của nông sản không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thời điểm thu hoạch.

Từ cành keo, bồ đề hay lõi ngô, chuỗi sản xuất tại Hương Cần được kéo dài qua nhiều công đoạn: xử lý nguyên liệu, sản xuất giống, nuôi trồng, thu hoạch, sơ chế, đóng gói và tiến tới chế biến sâu. Mỗi công đoạn được bổ sung cũng là một cơ hội để giữ lại thêm giá trị cho sản phẩm và cho chính địa phương nơi sản phẩm được tạo ra.

Xét ở góc độ thị trường, thương hiệu nông sản cũng không thể chỉ được dựng lên bằng tên gọi, bao bì hay một chiến dịch quảng bá. Người tiêu dùng có thể biết đến sản phẩm nhờ truyền thông, nhưng để họ quay trở lại thì yếu tố quyết định vẫn là chất lượng ổn định và niềm tin.

Vì vậy, câu chuyện nâng tầm thương hiệu phải bắt đầu từ nhà sản xuất: chủ động giống, kiểm soát nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình, truy xuất được nguồn gốc và tiếp tục đầu tư cho chế biến. Khi những mắt xích đó liên kết với nhau, giá trị của sản phẩm mới có cơ sở để tăng lên một cách bền vững.

Từ một vùng miền núi vốn quen với cây lúa, ngô, sắn và rừng trồng, cây nấm đang mở ra một hướng sản xuất mới tại Hương Cần. Mô hình vẫn trong quá trình mở rộng và hiệu quả lâu dài sẽ còn phụ thuộc vào thị trường, khả năng tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp với người dân cũng như sức tiêu thụ sản phẩm.

Nhưng từ những kết quả ban đầu, có thể thấy một hướng tiếp cận khá rõ: thay vì chỉ tìm cách sản xuất nhiều hơn, giá trị nông nghiệp có thể được nâng lên bằng việc tận dụng tốt hơn nguồn nguyên liệu sẵn có, đưa công nghệ vào sản xuất, gắn doanh nghiệp với người dân và kéo dài chuỗi giá trị bằng chế biến sâu.

Khi một cây nấm vừa giúp tận dụng phụ phẩm nông, lâm nghiệp, vừa tạo việc làm, góp phần thay đổi cách sản xuất và có cơ hội bước vào các phân khúc sản phẩm giá trị cao hơn, câu chuyện nâng tầm thương hiệu nông sản đã vượt khỏi phạm vi của một sản phẩm. Đó còn là câu chuyện về cách tạo thêm giá trị cho nông nghiệp và tạo sinh kế bền vững ngay trên chính mảnh đất của người dân.