VCCI góp ý nhiều nội dung liên quan đến dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu.
Góp ý Dự thảo Nghị định về kinh doanh xăng dầu (dự thảo 14) do Bộ Công thương xây dựng, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đề nghị làm rõ nhiều quy định liên quan đến xử lý Quỹ bình ổn giá xăng dầu, kê khai giá và hoạt động mua bán xăng dầu giữa các thương nhân phân phối.
Làm rõ cơ chế xử lý Quỹ bình ổn giá xăng dầu
VCCI ghi nhận dự thảo đã xác định thời điểm chấm dứt trích lập, chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, trừ trường hợp tiếp tục trích lập để hoàn trả nguồn ngân sách tạm ứng. Tuy nhiên, để bảo đảm công khai, minh bạch và tránh phát sinh khoảng trống pháp lý, VCCI cho rằng một số nội dung cần được quy định cụ thể hơn.
Theo VCCI, mốc chấm dứt trích lập, chi sử dụng quỹ là ngày 1/1/2027 có thể không trùng với ngày Nghị định có hiệu lực, trong khi thời điểm chốt số dư và phạm vi kiểm toán lại được xác định đến hết ngày liền kề trước ngày Nghị định có hiệu lực.
'Nếu các mốc này khác nhau, cần quy định rõ việc trích lập, chi sử dụng, quản lý và đối chiếu số dư trong giai đoạn chuyển tiếp', VCCI nêu.
Đối với số dư âm, cách diễn đạt 'nhiều hơn', 'ít hơn' chưa làm rõ việc so sánh dựa trên giá trị đại số của số dư hay quy mô khoản tiền được hoàn trả, có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau. Dự thảo cũng chưa quy định thời hạn hoàn trả số dư âm, tức phần vốn doanh nghiệp đã ứng để thực hiện bình ổn giá theo điều hành của Nhà nước, cũng như thời hạn chuyển nộp số dư dương tại các điểm a và b khoản 4.
VCCI đề nghị làm rõ phạm vi kiểm toán đối với các khoản phát sinh từ khi hình thành quỹ. Công thức giá tại Điều 28 cũng chưa thể hiện cách xử lý khoản trích này. Dự thảo chưa làm rõ mức trích tối đa, thời hạn trích lập và cơ chế công khai số dư.
Do đó, VCCI đề nghị quy định cụ thể chủ thể chịu nghĩa vụ, cơ sở tính, cách hạch toán và phương thức phản ánh khoản trích vào giá bán, nhằm tránh tình trạng thu trùng hoặc áp dụng không thống nhất giữa các thương nhân.
Về xử lý số dư dương của quỹ, VCCI lưu ý quy định tại điểm c khoản 4 Điều 33 lựa chọn số liệu kiểm toán nếu cao hơn số liệu doanh nghiệp đã báo cáo, nhưng vẫn giữ số liệu doanh nghiệp báo cáo nếu kết quả kiểm toán thấp hơn.
Theo VCCI, cách xử lý này chưa cho phép điều chỉnh giảm nghĩa vụ theo kết quả kiểm toán, làm giảm ý nghĩa của kiểm toán độc lập và chưa làm rõ mối liên hệ với quy định hoàn trả trong trường hợp thương nhân đã nộp dư.
Một nội dung khác được VCCI lưu ý là quy định đình chỉ kinh doanh tạm thời nếu thương nhân đầu mối chậm quyết toán quá 60 ngày và thu hồi Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân đầu mối nếu chậm quá 90 ngày.
Theo VCCI, các hình thức xử lý này cần được rà soát để bảo đảm phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính và pháp luật chuyên ngành.
Dự thảo hiện chưa xác định rõ nghĩa vụ quyết toán cụ thể của thương nhân, thời hạn hoàn thành và thời điểm bắt đầu tính chậm quyết toán. Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ giữa thời hạn kiểm toán 12 tháng tại khoản 4 và phương án quyết toán do Bộ Công Thương xây dựng tại khoản 6. Quy định phong tỏa tài khoản cũng cần xác định cụ thể thời điểm, phạm vi và cơ chế chuyển nộp tiền trong thời gian phong tỏa.
VCCI cho rằng cần phân biệt trường hợp chậm quyết toán do lỗi của thương nhân với trường hợp phải chờ ý kiến hoặc xử lý của cơ quan nhà nước, cũng như các nguyên nhân khách quan có căn cứ chứng minh. Bởi việc đình chỉ hoạt động của một thương nhân đầu mối có thể tác động đến nguồn cung của cả hệ thống phân phối phụ thuộc, gây ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi doanh nghiệp vi phạm.
Từ những bất cập trên, VCCI đề nghị gắn thời điểm chấm dứt trích lập, chi sử dụng quỹ với ngày Nghị định có hiệu lực hoặc bổ sung quy định bảo đảm căn cứ pháp lý và cơ chế đối chiếu số dư trong giai đoạn chuyển tiếp.
Đối với khoản trích lập để hoàn trả ngân sách tạm ứng, cần quy định rõ chủ thể chịu nghĩa vụ, cơ sở tính, cách hạch toán, phương thức phản ánh vào giá bán, mức trích tối đa, thời hạn tối đa và nghĩa vụ công khai số dư định kỳ.
Đề xuất đơn giản hóa thủ tục kê khai giá
Đối với quy định về kê khai giá, VCCI cho biết thương nhân phân phối thuộc hệ thống đầu mối vẫn có quyền quyết định giá bán thấp hơn mức giá đầu mối công bố và không bắt buộc phải tăng giá khi đầu mối tăng giá theo điểm a khoản 2 Điều 28.
Tuy nhiên, nếu thương nhân áp dụng đúng mức giá đã được đầu mối kê khai, việc yêu cầu kê khai riêng sẽ tạo ra thủ tục trùng lặp. Ngoài ra, thời hạn kê khai chậm nhất vào cuối ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày giá mới có hiệu lực tại điểm đ khoản 2 Điều 29 có thể tạo áp lực tuân thủ, nhất là với những doanh nghiệp chưa có khả năng kê khai tự động.
Vì vậy, VCCI đề nghị rà soát thời hạn này trong mối tương quan với quy định chung về kê khai giá tại Nghị định số 85/2024/NĐ-CP.
Đồng thời, VCCI cũng kiến nghị sửa đổi các quy định theo hướng sử dụng công thức giá làm căn cứ kê khai, giải trình và giám sát quá trình hình thành giá, không dùng để áp đặt mức lợi nhuận hoặc chi phí ngoài phạm vi pháp luật.
Cần đơn giản hóa hồ sơ tính giá đối với thương nhân phân phối nhưng vẫn bảo đảm khả năng kiểm tra tính chính xác, trung thực của dữ liệu; hợp nhất hoặc phân định rõ phạm vi áp dụng.
