Vốn tín dụng cho tăng trưởng hai chữ số: Lo tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn
Vietnamfinance
· 17/08/2026
Vốn tín dụng cho tăng trưởng hai chữ số: Lo tăng rủi ro lệch pha kỳ hạnThanh Trúc-17/08/2026 09:30 (GMT+7)(VNF) - Ngân hàng Việt Nam đang một mình gánh vốn dài hạn trong khi vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn. Khi mục tiêu tăng trưởng hai chữ số cần lượng vốn dài hạn lớn hơn nhiều, rủi ro lệch pha kỳ hạn càng bị đẩy cao.Xung quanh vấn đề gỡ “nút thắt” vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với ông Phan Duy Hưng, CFA, MBA - Giám đốc Cấp cao, Ban Định chế Tài chính, VIS Rating.- Ông đánh giá như thế nào về áp lực của hệ thống ngân hàng khi vẫn đang phải “gồng gánh” vai trò chủ lực trong việc cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế?Ông Phan Duy Hưng:Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng vẫn đang là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế với tổng dư nợ tín dụng tương đương khoảng 150% GDP vào cuối năm 2025 – mức cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực.Trong khi đó, các kênh dẫn vốn dài hạn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ tương đương gần 10% GDP và chưa đủ khả năng chia sẻ vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế. Hệ quả là ngân hàng buộc phải tự gánh phần lớn nhu cầu vốn cho các dự án trung và dài hạn, từ cơ sở hạ tầng, bất động sản đến sản xuất kinh doanh.Thực trạng này dẫn đến một điểm nghẽn cấu trúc mang tính dài hạn: sự lệch pha ngày càng rõ giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Tín dụng, đặc biệt tín dụng trung và dài hạn, tiếp tục tăng nhanh, trong khi nguồn vốn huy động tăng chậm và vẫn chủ yếu tập trung ở kỳ hạn ngắn 6 – 12 tháng. Biểu hiện rõ nhất của sự mất cân đối này là tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) của các ngân hàng niêm yết đã tăng lên gần 110% tính đến hết quý I/2026, mức cao nhất trong khoảng 5 năm qua và tương đối cao so với các ngân hàng trong khu vực.Ông Phan Duy Hưng, CFA, MBA - Giám đốc Cấp cao, Ban Định chế Tài chính, VIS Rating.Áp lực cấu trúc này lại càng gia tăng trước sự cộng hưởng của yếu tố mùa vụ ngân sách trong ngắn hạn. Thu ngân sách tăng cao trong khi giải ngân đầu tư công 6 tháng đầu năm còn chậm khiến một phần dòng tiền bị rút khỏi hệ thống ngân hàng, chuyển về tài khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước. Điều này buộc hệ thống phải dựa nhiều hơn vào các nguồn bù đắp thanh khoản ngắn hạn – tiền gửi Kho bạc Nhà nước và kênh thị trường mở (OMO) – vốn là những nguồn có tính biến động cao và không ổn định.Sự phụ thuộc này càng đáng lo ngại khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải điều tiết công cụ OMO thận trọng hơn tại một số thời điểm áp lực tỷ giá gia tăng đúng vào lúc biến động địa chính trị toàn cầu khiến tỷ giá vốn đã khó lường.Các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, nơi sức chống chịu mỏng hơn sẽ cảm nhận rõ hơn áp lực này. Một số ngân hàng ghi nhận sự sụt giảm tiền gửi không kỳ hạn (CASA), buộc phải gia tăng phụ thuộc vào nguồn vốn liên ngân hàng ngắn hạn. Để bù đắp, các ngân hàng này phải đẩy lãi suất huy động lên, với mức tăng thực tế khoảng 2–3% ở các kỳ hạn 6–12 tháng từ đầu năm đến nay – phản ánh mức độ cạnh tranh huy động vốn đang gia tăng trong toàn hệ thống.- Mới đây, NHNN đã nới tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn về mức 40% chỉ sau một thời gian dài nỗ lực siết chặt. Theo ông, đâu là lý do dẫn đến quyết định này? Sự thay đổi này liệu có làm gia tăng rủi ro hệ thống không?Ông Phan Duy Hưng:NHNN đã nâng giới hạn tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40%. Ngoài ra, NHNN cũng đã miễn trừ một số khoản cho vay dự án hạ tầng trọng điểm khỏi giới hạn tăng trưởng tín dụng.Các biện pháp này nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn, đặc biệt đối với lĩnh vực hạ tầng và bất động sản, trong bối cảnh một số ngân hàng tăng trưởng nhanh đang dần tiệm cận giới hạn SMLR hiện hành (30%).Tuy nhiên, việc nâng trần SMLR sẽ làm gia tăng rủi ro đối với hồ sơ tín nhiệm của các ngân hàng, khiến các ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn thị trường ngắn hạn (kém ổn định và nhạy cảm với niềm tin thị trường) để tài trợ cho các khoản vay dài hạn. Điều đáng lo ngại là thay đổi này diễn ra đúng lúc tăng trưởng tiền gửi toàn ngành còn thấp, trong khi tín dụng ngân hàng vẫn là kênh chính hỗ trợ tăng trưởng kinh tế – tức nới trần SMLR không đi kèm với sự cải thiện tương ứng ở phía nguồn vốn, mà cộng hưởng vào đúng điểm nghẽn thanh khoản đã có sẵn.Rủi ro này tập trung rõ nhất ở nhóm ngân hàng từng tiệm cận ngưỡng 30% trước đây. Nếu tiếp tục đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, nhóm ngân hàng này sẽ đối mặt rủi ro cao hơn khi thanh khoản thị trường thắt chặt. Các nhà băng sẽ phải cạnh tranh huy động tiền gửi gay gắt hơn và chịu chi phí vốn tăng, tương tự giai đoạn căng thẳng thanh khoản năm 2022.Việc miễn trừ tín dụng hạ tầng khỏi giới hạn tăng trưởng cũng sẽ góp phần khuếch đại rủi ro lệch pha vốn. Khoảng 752 nghìn tỷ đồng cho các dự án triển khai giai đoạn 2026–2033 (sân bay, đường sắt) có thể khiến tăng trưởng tín dụng toàn ngành tăng thêm khoảng 1,2 điểm phần trăm mỗi năm trong 12–18 tháng tới. Điều này tiếp tục đẩy cao nhu cầu huy động vốn của ngân hàng, làm trầm trọng thêm chính sự mất cân đối kỳ hạn mà việc nới trần SMLR vốn đã tạo ra.- Trước những rủi ro chênh lệch kỳ hạn và bài toán thanh khoản nói trên, NHNN đã có những động thái gì? Tác động đến các ngân hàng ra sao, thưa ông?Ông Phan Duy Hưng:Thực tế, NHNN đã đề xuất các quy định thanh khoản chặt chẽ hơn vào tháng 5/2026, nhằm từng bước đưa hệ thống tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo dự thảo, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) sẽ được thay bằng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng trên huy động vốn (CDR) với phạm vi bao quát rộng hơn, đồng thời các yêu cầu về tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và tỷ lệ đòn bẩy (LEV) sẽ được triển khai theo lộ trình từ năm 2028.Các yêu cầu này về bản chất buộc ngân hàng tăng tỷ trọng vốn ổn định từ tiền gửi khách hàng, giảm phụ thuộc vào nguồn vốn thị trường vốn nhạy cảm với niềm tin nhà đầu tư, qua đó củng cố bộ đệm thanh khoản và khả năng chống chịu trước các cú sốc trong dài hạn.Việc áp dụng CDR nghiêm ngặt hơn sẽ tạo áp lực huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp. Chúng tôi ước tính phần lớn ngân hàng hiện chưa đáp ứng được ngưỡng tối đa 85%, đồng nghĩa với cạnh tranh huy động tiền gửi sẽ gia tăng, chi phí vốn duy trì ở mức cao và gây áp lực lên biên lãi ròng (NIM) trong ngắn hạn.Về phần các ngân hàng thương mại, trước thực tế huy động trong nước còn hạn chế, nhiều ngân hàng lớn cũng đã chủ động đi trước, đa dạng hóa nguồn vốn qua các khoản vay hợp vốn quốc tế, phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế và mở rộng hợp tác với các định chế tài chính phát triển như IFC, ADB cùng các quỹ đầu tư nước ngoài. VPBank vừa thu xếp thành công khoản vay hợp vốn trị giá 1,44 tỷ USD kỳ hạn 3 năm, do SMBC và các định chế tài chính quốc tế thu xếp. HDBank cũng đã ký khoản vay hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD với sự tham gia của Standard Chartered, ADB và nhiều tổ chức tài chính nước ngoài.- Quay trở lại với bài toán tổng thể, có thể thấy việc điều chỉnh các tỷ lệ an toàn của NHNN suy cho cùng chỉ là liều thuốc “giảm đau ngắn hạn”. Theo ông, đâu là cuộc “đại phẫu” tận gốc mà hệ thống tài chính Việt Nam cần thực hiện để giải quyết triệt để bài toán vốn dài hạn, thay vì cứ mãi loay hoay với vòng lặp nới - siết tín dụng?Ông Phan Duy Hưng:Tôi cho rằng bài toán cốt lõi không nằm ở việc nới hay siết các giới hạn tín dụng mà nằm ở việc cơ cấu lại vai trò của các kênh dẫn vốn trong nền kinh tế. Về dài hạn, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để chia sẻ vai trò cung cấp vốn trung và dài hạn với hệ thống ngân hàng thay vì để ngân hàng tiếp tục một mình gánh vác như thực trạng hiện nay.Để làm được điều đó, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng thị trường và cơ chế định giá rủi ro, bao gồm thúc đẩy xếp hạng tín nhiệm, tăng tính minh bạch thông tin và hình thành đường cong lợi suất. Song song đó, cần tập trung mở rộng cơ sở nhà đầu tư tổ chức dài hạn như quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư dài hạn và thu hút mạnh hơn dòng vốn từ nhà đầu tư quốc tế, bởi đây là nhóm phù hợp nhất để nắm giữ các tài sản có kỳ hạn dài như trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu hạ tầng.Tại một số thị trường khu vực, cơ sở nhà đầu tư tổ chức vững mạnh đã giúp các dự án PPP đường cao tốc phát hành trái phiếu với kỳ hạn lên tới 50 năm; các ngân hàng phát triển và tổ chức quốc tế như ADB, IFC cũng góp phần nâng cao tính khả thi của dự án thông qua các hình thức tài trợ nợ chuyển đổi và nợ thứ cấp. Nếu các rào cản pháp lý được gỡ bỏ theo lộ trình của Bộ Tài chính giai đoạn 2026–2027, Việt Nam có thể khai thông nguồn vốn dài hạn đáng kể để tài trợ các mục tiêu phát triển hạ tầng.Bên cạnh việc xây dựng cơ sở nhà đầu tư, cần tận dụng thêm các thông lệ toàn cầu như công cụ đánh giá rủi ro và cơ chế bảo lãnh để phù hợp với khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các hình thức bảo lãnh thanh toán toàn phần hoặc một phần do các tổ chức như CGIF hay GuarantCo cung cấp có thể nâng cao đáng kể mức độ hấp dẫn đầu tư của trái phiếu.Khi các điều kiện này được hình thành đồng bộ, doanh nghiệp sẽ có thêm lựa chọn huy động vốn ngoài ngân hàng, còn hệ thống ngân hàng có thể tập trung hơn vào đúng chức năng trung gian tài chính và cung cấp vốn ngắn hạn thay vì phải liên tục điều chỉnh các tỷ lệ an toàn để chạy theo một vai trò vốn dĩ không nên đặt hết lên vai mình.Cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!Thiết lập kỷ luật phân bổ vốn cho cơ chế tín dụng mớiThiết lập kỷ luật phân bổ vốn cho cơ chế tín dụng mớiNgân hàng(VNF) - Cơ chế tín dụng mới cần đi cùng kỷ luật vốn mới. Các tập đoàn lớn được ưu tiên vốn phải chứng minh được năng lực triển khai, khả năng tạo dòng tiền và hiệu ứng lan tỏa. Các doanh nghiệp còn lại muốn tiếp cận tín dụng cũng phải nâng chuẩn minh bạch tài chính, quản trị dòng tiền và hiệu quả đầu tư.