Xây dựng Nghị định mới về trợ cấp xã hội và hỗ trợ nội trú cho người học

Sau hơn hai thập kỷ áp dụng, các định mức trợ cấp xã hội và hỗ trợ nội trú cho người học đã lộ rõ tính bất cập trước áp lực trượt giá và rào cản thủ tục giấy tờ. Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất ban hành Nghị định mới được xem là bước đi cấp thiết, không chỉ giúp tái định hình chính sách an sinh giáo dục theo mức độ khó khăn thực tế mà còn đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu đối soát...
Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng phát triển dân trí, nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Việc đảm bảo an sinh xã hội, công bằng trong tiếp cận giáo dục và không để người học bỏ dở vì khó khăn kinh tế là trách nhiệm chung của Nhà nước, xã hội và hệ thống giáo dục.
Hiện nay, việc hoàn thiện chính sách trợ cấp, hỗ trợ người học không chỉ nhằm đảm bảo quyền học tập mà còn trực tiếp phục vụ mục tiêu phát triển nguồn nhân lực, giảm nghèo đa chiều, phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị công.
MỨC HƯỞNG TRỢ CẤP KHÔNG CÒN PHÙ HỢP VỚI MẶT BẰNG CHUNG
Các chính sách được ban hành thời gian qua đã kịp thời tạo cơ sở pháp lý để hỗ trợ người học thuộc diện chính sách, người dân tộc thiểu số, người học thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và người học trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Tuy nhiên, hệ thống quy định hình thành qua nhiều thời kỳ, phân tán tại nhiều quyết định, phạm vi điều chỉnh và thuật ngữ không còn đồng bộ với Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp mới.
Một số nhóm người học có hoàn cảnh khó khăn như học viên cao học, nghiên cứu sinh, người học chương trình giáo dục trung học nghề chưa được bao quát đầy đủ hoặc chưa có cơ chế hỗ trợ thống nhất.
Đặc biệt, các văn bản hiện hành có sự giao thoa về đối tượng và mục tiêu nhưng sử dụng cơ chế khác nhau về mức hưởng, thời gian hưởng, cơ quan xét duyệt, chi trả và quyết toán.
Một số đối tượng có thể đồng thời thuộc nhiều chính sách, trong khi chưa có nguyên tắc thống nhất để xử lý trường hợp cùng mục tiêu, cùng nội dung chi và cùng thời gian hỗ trợ, dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau.
Về mức hưởng trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp cũng bộc lộ bất cập.
Mức trợ cấp xã hội 100.000 đồng/người/tháng áp dụng từ năm 1997, mức 140.000 đồng/người/tháng áp dụng từ năm 2001 và các khoản hỗ trợ nội trú áp dụng từ năm 2015 không còn phù hợp với mặt bằng chi phí học tập, sinh hoạt và đi lại hiện nay…
Bên cạnh đó, hồ sơ, thủ tục còn phụ thuộc nhiều vào giấy tờ; việc kết nối, khai thác, chia sẻ và đối soát dữ liệu chưa đồng bộ, làm tăng thời gian, chi phí thực hiện và nguy cơ hưởng sai, hưởng trùng.
Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Nghị định mới nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Giáo dục và Luật Giáo dục nghề nghiệp về chính sách trợ cấp, chính sách nội trú đối với người học. Theo đó, chính sách được xác định theo hoàn cảnh kinh tế - xã hội và mức độ khó khăn của người học, không dựa vào thành tích học tập; có nguyên tắc ngăn ngừa hỗ trợ trùng.
ĐỀ XUẤT MỨC HƯỞNG TRỢ CẤP THEO TỶ LỆ MỨC LƯƠNG CƠ SỞ
Theo dự thảo Nghị định, mức hưởng trợ cấp được xác định theo tỷ lệ mức lương cơ sở để bảo đảm ổn định, thống nhất và thuận lợi trong tổ chức thực hiện.
Cụ thể, người học thuộc một trong các nhóm đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định này được hưởng mức trợ cấp bằng 80% mức lương cơ sở. Người học đồng thời thuộc từ 02 nhóm đối tượng trở lên quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định này được hưởng mức trợ cấp bằng 100% mức lương cơ sở.
Về chính sách nội trú, mức học bổng, hỗ trợ cũng được tính theo tỷ lệ mức lương cơ sở như hỗ trợ mua đồ dùng cá nhân một lần cho toàn khóa học bằng 60% mức lương cơ sở/người/khóa học; hỗ trợ trong dịp Tết Nguyên đán bằng 10% mức lương cơ sở/người/lần đối với người học ở lại trường trong dịp Tết Nguyên đán…
Dự thảo cũng quy định ba mức học bổng chính sách tương ứng với từng nhóm đối tượng theo tỷ lệ 100% – 80% - 60%.
Ngoài ra, chính sách trợ cấp được thực hiện 12 tháng trong một năm học, bao gồm thời gian nghỉ theo kế hoạch đào tạo; không tính thời gian người học tạm dừng học, bị đình chỉ học tập hoặc vượt quá thời gian đào tạo chuẩn.
Đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ, mô-đun, số tháng hưởng học bổng chính sách nội trú được quy đổi theo số tín chỉ của các môn học, mô đun người học đã tham gia học tập và được cơ sở giáo dục xác nhận trong năm học so với tổng số tín chỉ bình quân của một năm học theo tiến độ của chương trình đào tạo.
Dự thảo cũng thống nhất nguyên tắc không hưởng trùng chính sách có cùng mục tiêu, nội dung chi và thời gian hỗ trợ; quy định rõ trường hợp người học đồng thời thuộc diện hưởng trợ cấp và nội trú.
Theo đó, trường hợp người học đồng thời thuộc diện hưởng nhiều chính sách của Nhà nước có cùng mục tiêu, cùng nội dung chi và cùng thời gian hỗ trợ thì chỉ được hưởng một chính sách có mức hỗ trợ cao nhất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung người học chương trình giáo dục trung học nghề vào phạm vi chính sách phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp. Quy định nộp hồ sơ một lần trong khóa học, cập nhật khi thông tin hết hiệu lực hoặc thay đổi; khai thác dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và không yêu cầu nộp lại giấy tờ đã có…
Góp ý dự thảo luật, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội đề nghị làm rõ cơ sở phân loại 3 mức học bổng tương ứng với từng nhóm đối tượng; đánh giá mức độ phù hợp với điều kiện sinh hoạt thực tế của người học hiện nay.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết việc quy định ba mức học bổng chính sách được xây dựng trên cơ sở kế thừa cơ cấu mức hưởng của Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg, đồng thời phân loại theo mức độ khó khăn và số yếu tố bất lợi mà người học phải đối mặt. Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 và là căn cứ thực hiện chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp.
Khoảng cách 20 điểm phần trăm giữa các mức 100%, 80% và 60% nhằm tạo sự phân tầng hợp lý, phản ánh tương đối mức độ khó khăn giữa các nhóm đối tượng, đồng thời bảo đảm mức chênh lệch không quá lớn, tránh tạo bất bình đẳng trong thụ hưởng chính sách.
Việc phân loại không nhằm xác định giá trị tuyệt đối của từng hoàn cảnh khó khăn mà để ưu tiên mức hỗ trợ cao hơn đối với nhóm chịu nhiều yếu tố bất lợi hơn.