753.000 doanh nghiệp, hộ kinh doanh ngừng hoạt động trên 10 năm được ‘giải cứu’?

Nội dung trên được Bộ Tài chính đưa ra tại hồ sơ dự thảo Nghị quyết nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế, đồng thời, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu.
Cụ thể, người nộp thuế đã ngừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (03) hoặc được cơ quan thuế xác định không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (06) từ đủ 10 năm trở lên tính từ ngày Nghị quyết có hiệu lực, không có nợ thuế và không thuộc trường hợp đang được thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử thì được xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định hiện hành.

Về thủ tục, trước khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế, cơ quan thuế công khai thông tin người nộp thuế trên Trang điện tử của ngành thuế trong thời hạn 30 ngày. Nếu người nộp thuế không có văn bản đề nghị khôi phục mã số thuế và cơ quan thuế không nhận được ý kiến phản đối bằng văn bản của tổ chức, cá nhân có liên quan thì khi hết thời gian trên, sẽ tiến hành chuyển thông tin qua cơ quan đăng ký kinh doanh, chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, hiện còn khoảng 753.000 người nộp thuế ở trạng thái 03, 06 trên 10 năm, chiếm tỷ trọng 25% tổng số người nộp thuế ở 2 trạng thái này. Trong đó, khoảng 287.000 tổ chức, doanh nghiệp và khoảng 466.000 hộ, cá nhân kinh doanh.
Trong số này, có 172.147 người nộp thuế là DN, tổ chức không có nợ thuế, chiếm 60% tổng số 287.000 nêu trên. Đây là những trường hợp ngừng hoạt động trong thời gian dài, chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, gây tồn đọng và làm giảm độ chính xác của cơ sở dữ liệu quản lý thuế. Do đó, cần cơ chế rà soát, xử lý dứt điểm các trường hợp mã số thuế đủ điều kiện, tránh ảnh hưởng các nghĩa vụ thuế phát sinh.
Để có cơ sở cho đề xuất này, Bộ Tài chính dẫn quy định tại Luật Quản lý thuế 108/2025, cho phép cơ quan quản lý áp dụng biện pháp xoá tiền nợ thuế đối với trường hợp đã áp dụng biện pháp cưỡng chế, khoản tiền nợ thuế đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp nhưng không có khả năng thu hồi. Đồng thời, cũng tại Luật này nêu rõ, sau khi hết thời hiệu xử phạt, người nộp thuế vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thuế, tiền trốn thuế, tiền chậm nộp nhưng phạm vi xác định nghĩa vụ về nguyên tắc được tính trong thời hạn 10 năm trở về trước kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.
Bên cạnh đó, Luật Kế toán số 88/2015 quy định, tài liệu kế toán phải được lưu trữ ít nhất 5 năm đối với mục đích dùng cho kế toán quản lý, điều hành đơn vị và ít nhất 10 năm đối với chứng từ kế toán sử dụng trực tiếp để ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính.
Bộ Tài chính cho biết, đây là cơ sở để đề xuất hướng xử lý mã số thuế đối với người nộp thuế không hoạt động trên 10 năm, vừa đảm bảo thận trọng, đồng thời, có sự tương thích với các quy định về thời hạn xác định nghĩa vụ thuế, xử lý số tiền nợ và lưu trữ kế toán.
Ngoài ra, việc khoanh vùng người nộp thuế, chỉ áp dụng đối với trường hợp không có nợ thuế, không thuộc trường hợp đang được thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử và thực hiện công khai thông tin trong thời hạn 30 ngày trước khi chấm dứt hiệu lực vừa đảm bảo hạn chế rủi ro và khả năng tiếp nhận ý kiến của người nộp thuế và các bên liên quan, không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã phát sinh.