Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, 8 tháng đầu năm 2026, doanh thu phí của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 64.930 tỷ đồng, tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước; còn doanh thu phí của các công ty bảo hiểm nhân thọ đạt 90.363 tỷ đồng, giảm 3,6%. Tính chung, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt khoảng 155.293 tỷ đồng, tăng 3,45%.
Trong khi đó, lượng vốn ngành bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế tiếp tục gia tăng, với tổng số tiền đạt khoảng 1,03 triệu tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ; riêng khối nhân thọ chiếm tới 936.560 tỷ đồng, tương đương khoảng 91%.
Những con số trên cho thấy một nghịch lý: Lượng vốn bảo hiểm tiếp tục dày lên, nhưng dòng tiền từ khách hàng nhân thọ chưa tăng tương ứng.
Một lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nhận định, điều thị trường vốn cần quan tâm không chỉ là 1,03 triệu tỷ đồng đang được đầu tư ở đâu, mà còn là 5-10 năm tới sẽ có thêm bao nhiêu tiền mới được đưa vào 'kho vốn' này.
'Doanh nghiệp bảo hiểm có đặc thù là nguồn vốn dài hạn hình thành từ các hợp đồng kéo dài hàng chục năm. Khi dòng tiền mới chậm lại, khả năng mở rộng ‘kho vốn’ dài hạn trong tương lai có thể chịu ảnh hưởng', vị này nói.
Đây là vấn đề đáng chú ý trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao giai đoạn 2026-2030 và nhu cầu vốn cho hạ tầng, sản xuất - kinh doanh… ngày càng lớn.
Theo PGS-TS. Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế, nguồn vốn dài hạn là một trong những lợi thế lớn của bảo hiểm nhân thọ so với nhiều định chế tài chính khác.
'Dù mức phí đóng hàng năm của mỗi khách hàng không nhiều, nhưng lại được thu trong thời gian dài nên quy mô nguồn vốn tích tụ là rất lớn. Giả sử, nếu mỗi khách hàng đóng 10 triệu đồng/năm và có 1 triệu người tham gia bảo hiểm, nguồn tiền tích lũy đã lên tới khoảng 10.000 tỷ đồng mỗi năm', ông Long nêu ví dụ.
Cũng theo ông Long, đến năm 2025, tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đạt khoảng 820.000 tỷ đồng, trong đó số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 771.000 tỷ đồng. Nguồn vốn này tạo ra một 'vùng đệm' tài chính, góp phần duy trì nguồn lực khi thị trường khó khăn và giảm sức ép lên hệ thống ngân hàng.
Khi doanh nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, sự phát triển của các nguồn vốn dài hạn khác như bảo hiểm sẽ giúp đa dạng hóa cấu trúc vốn tài trợ cho nền kinh tế. Điểm đáng chú ý là quy mô vốn từ bảo hiểm hiện tại dù lớn, nhưng điều đó không đồng nghĩa dòng vốn này sẽ tự động tăng trưởng với tốc độ tương tự trong tương lai. Lý do bởi, câu chuyện không nằm ở quy mô, mà là khả năng tái tạo dòng vốn.
Con số doanh thu phí nhân thọ giảm 3,6% cho thấy, dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm chưa lấy lại đà tăng trưởng. Nếu xu hướng này kéo dài, tốc độ hình thành nguồn vốn dài hạn mới có thể chịu ảnh hưởng, cho dù lượng tài sản đang được quản lý tiếp tục tăng nhờ nguồn vốn đã tích lũy trước đó.
Bà Phạm Thu Phương - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính nói rằng, bảo hiểm là một 'sản phẩm niềm tin', tức là khách hàng mua bảo hiểm ở hiện tại để đổi lấy cam kết chi trả trong tương lai. Bởi vậy, khi niềm tin suy giảm, các biện pháp như giảm phí, tặng quà hay quảng cáo sẽ khó tạo ra lực đẩy đủ lớn cho thị trường.
'Sự hoài nghi tạo nên một bức tường phòng thủ từ công chúng. Nếu không có niềm tin, sản phẩm bảo hiểm lập tức trở nên mất giá trị. Hệ quả là dòng vốn dài hạn được huy động từ phí bảo hiểm của người dân để đầu tư trở lại nền kinh tế sẽ chậm lại, đồng thời vai trò bổ sung của bảo hiểm nhân thọ trong hệ thống an sinh xã hội cũng trở nên mờ nhạt', bà Phương nhấn mạnh.
Thực tế, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang tái cơ cấu sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, kiểm soát chất lượng đại lý và cải thiện quy trình kinh doanh. Những nỗ lực này mang đến một số tín hiệu phục hồi. Song, với thị trường vốn, câu hỏi quan trọng hơn là làm thế nào để dòng vốn dài hạn từ bảo hiểm ngày càng lớn, ổn định và chảy mạnh hơn vào nền kinh tế?
Theo Bộ Tài chính, tỷ lệ tổng doanh thu phí bảo hiểm so với tổng sản phẩm trong nước của toàn ngành bảo hiểm, bao gồm cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, hiện tương đương khoảng 2-2,5% GDP, trong khi mức bình quân của khu vực đạt trên 3,5% và tại các nước phát triển là từ 7-10%. Trong bài toán tăng trưởng dài hạn, đây có thể mới là con số mà thị trường vốn cần dõi theo.
