Bảo hiểm

Bảo hiểm tài sản - kỹ thuật trước 'sóng' hạ tầng

Tinnhanhck
· 19 giờ trước

Hạ tầng mở ra dư địa lớn cho bảo hiểm

Quốc hội đã thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 với tổng vốn 8,22 triệu tỷ đồng, gồm 3,8 triệu tỷ đồng ngân sách Trung ương và 4,42 triệu tỷ đồng ngân sách địa phương. Nguồn lực này được ưu tiên cho các dự án quan trọng, trọng điểm và hạ tầng chiến lược. Riêng dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam có tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,7 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 67,34 tỷ USD.

Dòng vốn đầu tư công khổng lồ đồng nghĩa với một khối tài sản, máy móc, thiết bị, hợp đồng xây dựng và trách nhiệm pháp lý rất lớn cần được bảo vệ. Rủi ro có thể đến từ địa chất, thủy văn, thiên tai, cháy nổ, lỗi kỹ thuật, tai nạn lao động, hư hỏng thiết bị… hay trách nhiệm với bên thứ ba.

Nhìn từ góc độ bảo hiểm, đây rõ ràng là một thị trường nhiều dư địa. Song, giá trị dự án càng lớn không có nghĩa doanh nghiệp bảo hiểm có thể tự mình 'ôm' toàn bộ rủi ro.

Một sự cố nhỏ, hóa đơn bồi thường có thể rất lớn

Theo ông Đàm Đức Biên - Phó cục trưởng Cục Kinh tế quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), các dự án cao tốc, đường sắt tốc độ cao, sân bay, cảng biển, năng lượng… càng lớn thì rủi ro càng phức tạp do có nhiều gói thầu, nhà thầu và hạng mục liên kết chặt chẽ. Một sự cố tại một khâu có thể tạo hiệu ứng dây chuyền lên chi phí, tiến độ, chất lượng công trình..., thậm chí ảnh hưởng đến khả năng khai thác của toàn hệ thống.

Từ thực tiễn các dự án giao thông, ông Lê Văn Bình - đại diện Ban Quản lý dự án Thăng Long cho biết, rủi ro có thể xuất hiện từ giải phóng mặt bằng, thiếu vật liệu, biến động chi phí đến khảo sát, thiết kế, địa chất, thủy văn, thiên tai, an toàn lao động và trách nhiệm với bên thứ ba. Với công trình trị giá hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng, chỉ một tỷ lệ tổn thất nhỏ cũng có thể chuyển thành một hóa đơn bồi thường rất lớn.

Số liệu thống kê của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) cho thấy, tính đến hết tháng 6/2026, doanh thu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 49.686 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, bồi thường bảo hiểm gốc ước đạt 16.720 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 33,7 % (chưa bao gồm dự phòng bồi thường).

Trong đó, doanh thu bảo hiểm tài sản - kỹ thuật đạt 14.021 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 28,5% và tăng 13,3% so với cùng kỳ, bồi thường khoảng 5.445 tỷ đồng. Đây là nghiệp vụ được đánh giá có nhiều dư địa tăng trưởng khi dòng vốn lớn liên tục đổ vào hạ tầng.

Một thay đổi chính sách từ tháng 7/2026 cũng đang mở rộng nhu cầu bảo hiểm. Nghị định 220/2026/NĐ-CP quy định bảo hiểm bắt buộc trong thời gian xây dựng đối với các công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, số tiền bảo hiểm tối thiểu không thấp hơn tổng giá trị hợp đồng xây dựng, kể cả phần điều chỉnh, bổ sung.

Khi quy mô đầu tư tăng lên, trách nhiệm bảo hiểm cũng tăng theo, nhưng đây mới chỉ là 'đầu vào' của bài toán. Với những công trình lớn, doanh nghiệp bảo hiểm phải tính toán quy mô rủi ro, khả năng giữ lại và năng lực tái bảo hiểm. Do đó, các yếu tố như dữ liệu kỹ thuật, mô hình hóa rủi ro thiên tai, năng lực định phí và đội ngũ chuyên gia kỹ thuật ngày càng quan trọng.

Một doanh nghiệp có thể đứng tên bảo hiểm cho một công trình hàng chục nghìn tỷ đồng, nhưng không đồng nghĩa phải tự mình gánh toàn bộ tổn thất. Phần rủi ro vượt quá khả năng giữ lại được phân tán qua các lớp tái bảo hiểm. Bởi vậy, câu hỏi quan trọng là doanh nghiệp bảo hiểm có thể giữ lại bao nhiêu rủi ro và phải chuyển bao nhiêu cho các nhà tái bảo hiểm.

'Phép thử' từ những tổn thất nghìn tỷ

Siêu bão Yagi năm 2024 cho thấy quy mô tổn thất lớn có thể xuất hiện nhanh như thế nào. Theo Bảo hiểm PVI, tính đến tới thời điểm hiện tại, doanh nghiệp này ghi nhận gần 1.000 vụ tổn thất liên quan đến bão Yagi về nghiệp vụ tài sản - kỹ thuật, ước tổng mức đề nghị bồi thường gần 2.500 tỷ đồng

Đại diện Bảo hiểm PVI cho biết, đây là một trong những tổn thất lớn nhất trong lịch sử hoạt động, nhưng doanh nghiệp đã bảo đảm quyền lợi khách hàng. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới trong lĩnh vực bảo hiểm AM Best cũng cho hay, phần lớn tổn thất bảo hiểm sẽ được các nhà tái bảo hiểm trong và ngoài nước hấp thụ thông qua các chương trình tái bảo hiểm thảm họa.

Liên quan đến bồi thường do bão Yagi, một số vụ việc đã phát sinh khiếu nại, tranh chấp về phạm vi bảo hiểm, mức độ thiệt hại và điều kiện bồi thường. Điều này cho thấy, với những rủi ro lớn, khả năng chi trả chỉ là một phần, điều khoản hợp đồng, phạm vi bảo hiểm và cách xác định tổn thất cũng có thể quyết định doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả bao nhiêu.

Vấn đề càng trở nên đáng lưu ý đối với các dự án hạ tầng. Một hợp đồng có số tiền bảo hiểm rất lớn nhưng đi kèm nhiều điều khoản loại trừ, giới hạn trách nhiệm, mức khấu trừ hoặc điều kiện bồi thường… đồng nghĩa với việc không phải toàn bộ giá trị tổn thất đều được bảo hiểm chi trả. Bởi vậy, năng lực của nhà bảo hiểm không chỉ nằm ở quy mô vốn hay sức chứa tái bảo hiểm, mà còn là khả năng thiết kế hợp đồng, đánh giá rủi ro và xác định rõ trách nhiệm ngay từ đầu.

Các chuyên gia cũng nhìn nhận, bão Yagi không phải sự cố của riêng một công trình hạ tầng, nhưng là 'phép thử' thực tế cho khả năng xử lý một lượng lớn tổn thất xảy ra đồng thời. Với những công trình lớn như cao tốc, đường sắt, sân bay, cảng biển…, một sự cố nghiêm trọng có thể đặt ra yêu cầu bồi thường lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Khi đó, câu hỏi không còn là nhà bảo hiểm có bán được hợp đồng hay không, mà là nếu tổn thất thực sự xảy ra, thị trường trong nước có thể giữ lại bao nhiêu và hệ thống tái bảo hiểm có thể hấp thụ bao nhiêu?

Khả năng hấp thụ rủi ro vì thế không thể chỉ nhìn qua tổng vốn hay doanh thu phí. Nó còn phụ thuộc vào năng lực định phí, dữ liệu tổn thất, mô hình đánh giá rủi ro, đội ngũ chuyên gia kỹ thuật, khả năng thanh toán và đặc biệt là chương trình tái bảo hiểm. Điều này mở ra cơ hội để các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước tham gia sâu hơn vào các dự án hạ tầng lớn, không chỉ ở khâu phát hành đơn bảo hiểm, mà còn trong đánh giá, giám sát và quản trị rủi ro.

Trên thế giới, những tổn thất hạ tầng trị giá tỷ USD không phải hiếm. Chẳng hạn, vụ thủy điện Hidroituango tại Colombia năm 2018 được AGCS ước tính gây tổn thất bảo hiểm gần 1,4 tỷ USD. Hay như vụ sập cầu Francis Scott Key tại Mỹ năm 2024 được ước tính có thể tạo ra 2-4 tỷ USD tổn thất bảo hiểm. Điểm chung của những vụ việc này là rủi ro không nằm trên bảng cân đối của một doanh nghiệp bảo hiểm đơn lẻ, mà được phân tán qua đồng bảo hiểm và các lớp tái bảo hiểm.

Theo ông Nguyễn Việt Anh - phụ trách mảng bảo hiểm chuyên biệt của Aon Việt Nam, khi giá trị dự án tăng và rủi ro phức tạp hơn, doanh nghiệp bảo hiểm cần chú trọng xác định quy mô rủi ro, chủ động thu xếp năng lực bảo hiểm và sử dụng tư vấn chuyên môn trong thiết kế chương trình bảo hiểm. Với các dự án hạ tầng, năng lượng và giao thông, nhu cầu về dữ liệu kỹ thuật, mô hình hóa thảm họa và năng lực tái bảo hiểm là rất rõ ràng.

Đại diện Bảo hiểm PVI đánh giá, quy mô và độ phức tạp của rủi ro tại Việt Nam ngày càng gia tăng, nhất là các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, sản xuất và logistics. Các hợp đồng có giới hạn bảo hiểm lớn hơn kéo theo nhu cầu mạnh hơn về tái bảo hiểm và năng lực chuyên môn.

Nói cách khác, càng đầu tư vào các công trình hạ tầng thì thị trường bảo hiểm càng có thêm dư địa, nhưng để khai thác hiệu quả dư địa đó thì cần nhiều yếu tố gồm tiềm lực tài chính, năng lực kỹ thuật và đặc biệt là năng lực tái bảo hiểm.

Dưới góc độ đơn vị tái bảo hiểm, ông Lê Hoài Nam - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Alpha cho hay, với các dự án hạ tầng trị giá hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ USD, doanh nghiệp bảo hiểm khó có thể tự mình gánh toàn bộ rủi ro, nên cần được phân tán qua thị trường tái bảo hiểm toàn cầu. Vì vậy, chủ đầu tư và ban quản lý dự án khi lựa chọn bảo hiểm không chỉ cần xem xét đơn vị trực tiếp cung cấp dịch vụ, mà còn cần quan tâm 'ai đứng sau chương trình tái bảo hiểm' để đánh giá năng lực bảo vệ thực sự.