CASA lao dốc, ngân hàng tìm cách tăng nguồn vốn rẻ

CASA giảm tại nhiều ngân hàng
Tính đến quý II/2026, tỷ lệ CASA toàn ngành đi ngang so với quý I, ở mức 20,2%. So với cuối năm 2025, tỷ lệ CASA toàn ngành đã giảm 1,5 điểm %. Xét về số dư tuyệt đối, số dư CASA tính đến cuối quý II cũng thấp hơn 2% so với cuối năm 2025.
Theo báo cáo tài chính quý II/2026, có tới 22 ngân hàng ghi nhận CASA giảm. Nhóm dẫn đầu về tỷ lệ CASA trong quý II gồm có Techcombank (33,8%), MB (33,6%) và Vietcombank (32,3%). Tuy nhiên, cả ba ngân hàng đều ghi nhận sự sụt giảm trong tỷ lệ CASA, trong đó tỷ lệ CASA của MB giảm tới 3,2 điểm %.
Theo sau là nhóm ngân hàng gồm VietinBank (22,7%), MSB (21,9%), BIDV (20,1%) và ACB (20%). Nhóm có tỷ lệ CASA thấp nhất toàn ngành gồm có BAB (3,3%), Nam Á Bank (5%), VAB (5%) và Kienlong Bank (6%).
Duy chỉ có bốn ngân hàng cải thiện CASA từ đầu năm, bao gồm PGBank (tăng 1,8 điểm %), Sacombank (tăng 1,6), OCB (tăng 1) và Eximbank (tăng 0,7). Tuy vậy, cả bốn đều xuất phát từ mức CASA thấp trong quý trước đó.

Sự sụt giảm trong CASA của các ngân hàng đi ngược với diễn biến của tiền gửi khách hàng. Theo thống kê từ báo cáo tài chính, tiền gửi khách hàng đã tăng 5,5% trong 6 tháng đầu năm. Theo giới phân tích, mặt bằng lãi suất neo cao đã thúc đẩy dòng tiền nhàn rỗi của cả dân cư lẫn doanh nghiệp chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn. Theo thống kê của TCBS, lãi suất huy động cao nhất kỳ hạn 6–12 tháng chạm đáy 4,9% vào quý III/2024, đi ngang quanh 5,5% suốt năm 2025, rồi tăng dốc từ 5,7% cuối 2025 lên 6,5% trong quý I và 7,4% trong quý II/2026.
Theo bà Đỗ Minh Trang, Giám đốc Phân tích, Chiến lược ACBS, CASA đóng vai trò 'giảm nhiệt' chi phí vốn và bảo vệ biên lãi thuần (NIM). Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động tăng cao và tỷ lệ Cho vay trên Huy động (LDR) lên tới 110,6%, nguồn tiền gửi không kỳ hạn là "vũ khí" quan trọng nhất giúp ngân hàng hạ thấp chi phí vốn huy động.
'Ngân hàng duy trì được tỷ lệ CASA cao sẽ có dư địa đưa ra mức lãi suất cho vay hợp lý hơn, nằm trong vùng chịu đựng của người đi vay, từ đó vừa bảo vệ được biên lãi thuần (NIM) vừa giảm thiểu rủi ro nợ xấu tiềm ẩn', bà Trang nhấn mạnh.
Trái lại, những ngân hàng có CASA thấp sẽ bị ảnh hưởng trong môi trường chi phí vốn tăng cao do không có khả năng "giảm nhiệt" giá vốn. Để tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng này buộc phải tiếp cận tệp khách hàng có khẩu vị rủi ro cao hoặc chấp nhận mức lãi suất vay cao, khiến rủi ro tín dụng tích tụ theo thời gian.
Trở thành ngân hàng chính để tăng CASA
Đại diện ACBS nhận định, tỷ lệ CASA là thước đo đáng tin cậy hơn mọi tuyên bố về chiến lược, dù ngân hàng nói đang làm việc này, triển khai việc kia hay ứng dụng công nghệ nào. Chỉ số này phản ánh chất lượng dịch vụ của ngân hàng có đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng hay không, và ngân hàng có trở thành ngân hàng chính của họ hay không, bởi khách hàng chỉ để tiền ở nơi tin tưởng. Tỷ lệ CASA tăng đều theo thời gian là bảo chứng tốt nhất cho việc ngân hàng đang đi đúng hướng.
Theo bà Trang, chìa khóa để tăng CASA không nằm ở các chiến dịch khuyến mãi hay marketing bề nổi mà ở chiến lược biến ngân hàng thành "Ngân hàng chính" (Main Bank) của khách hàng.

Cụ thể, thay vì chỉ cung cấp một sản phẩm tiền gửi đơn lẻ, ngân hàng phải đáp ứng toàn bộ nhu cầu giao dịch tài chính hằng ngày của khách hàng như nhận lương, thanh toán hóa đơn điện nước, đầu tư chứng chỉ quỹ... Khi dòng tiền liên tục luân chuyển mà không rời khỏi hệ sinh thái của ngân hàng, số dư không kỳ hạn sẽ tự nhiên tăng lên.
Bà Trang cũng bổ sung, sở hữu tệp khách hàng trung thành, sử dụng dịch vụ vì sự thấu hiểu và tiện ích mới là nền tảng để có nguồn vốn giá rẻ. Khách hàng phải thực sự là khách hàng của ngân hàng. Nếu họ chỉ gắn bó khi chưa có nơi khác chào lãi suất huy động cao hơn hay miễn giảm phí, họ sẵn sàng rời đi. Chỉ khi nắm được tệp khách hàng của chính mình, ngân hàng mới tiến tới được vấn đề thứ hai là chi phí vốn cạnh tranh.
Trước đó, trong một trao đổi với VietnamFinance, ông Bùi Văn Huy, Tổng giám đốc FIDT nhận định. Để tăng khách hàng trung thành, ngân hàng có thể sử dụng dữ liệu để hiểu nhu cầu, dự báo hành vi và đưa ra sản phẩm phù hợp với từng khách hàng.
Cụ thể, ngân hàng có thể sử dụng dữ liệu giao dịch để xác định khách hàng đang có dòng tiền nhàn rỗi, nhận diện sổ tiết kiệm sắp đáo hạn, dự báo nguy cơ khách hàng chuyển tiền sang ngân hàng khác và đưa ra đề xuất phù hợp theo đúng thời điểm. Các mô hình 'next-best offer' giúp lựa chọn sản phẩm tiếp theo phù hợp; mô hình dự báo rời bỏ giúp ngân hàng chủ động giữ chân khách hàng; còn các chương trình kích hoạt theo sự kiện có thể được triển khai khi khách hàng nhận lương, có dòng tiền lớn hoặc thay đổi hành vi chi tiêu.
Bên cạnh đó, ngân hàng số có thể tích hợp thanh toán, tiết kiệm, đầu tư, bảo hiểm, quản lý tài chính cá nhân và các dịch vụ đời sống trên cùng một nền tảng. Khi tài khoản được gắn với nhận lương, thanh toán tự động, chứng khoán, bảo hiểm và nhiều giao dịch hằng ngày, khách hàng phát sinh chi phí về thời gian, công sức và thói quen nếu muốn chuyển sang ngân hàng khác.
'Mục tiêu thực tế không phải khiến khách hàng hoàn toàn bỏ qua lãi suất, mà là giảm mức độ nhạy cảm với lãi suất bằng cách trở thành ngân hàng chính của họ. Khi ngân hàng nắm giữ phần lớn dòng tiền nhận vào, thanh toán, tiết kiệm, vay vốn và đầu tư của khách hàng, khả năng duy trì CASA và tiền gửi ổn định sẽ cao hơn', ông nói.