Theo Cục Thống kê, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Riêng tháng 10, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025.
Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019 - 2026. Trước đó, IIP 10 tháng các năm 2019 - 2025 lần lượt tăng 9,5%; 2,6%; 3,8%; 8,9%; 0,5%; 8,3% và 9,2%.
Xét theo ngành, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong tăng trưởng sản xuất công nghiệp. Trong 10 tháng, IIP ngành này tăng 13%, cao hơn mức tăng 10,4% của cùng kỳ năm 2025, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Ngành khai khoáng tăng 7,1%, cải thiện đáng kể so với mức tăng 0,2% của cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,1 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, so với mức tăng 6,6% cùng kỳ năm 2025, đóng góp 1 điểm phần trăm. Trong khi đó, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Trong nhóm ngành công nghiệp trọng điểm, sản xuất kim loại ghi nhận mức tăng cao nhất, với IIP tăng 25,6% trong 10 tháng. Tiếp đến là sản xuất đồ uống tăng 17,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,6%.
Một số ngành khác cũng duy trì mức tăng khá như chế biến thực phẩm tăng 12,9%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 12,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,8%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 11,7%; ngành dệt tăng 10,7%.
Ở chiều ngược lại, IIP ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng thấp hơn, ở mức 4,3%. Khai thác than cứng và than non giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước.
Diễn biến tăng trưởng của các ngành cũng được phản ánh qua sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực. Trong 10 tháng, sản lượng máy tính bảng tăng 36,6%; xe máy tăng 26,8%; máy tính xách tay tăng 25,9%; ô tô tăng 25,1%; thép cán tăng 24%; thép thanh, thép góc và thủy hải sản chế biến cùng tăng 22,5%. Sản lượng đường kính tăng 18,9%, sắt thép thô tăng 17% và bia tăng 14,6%.
Tuy nhiên, một số sản phẩm vẫn ghi nhận sản lượng giảm so với cùng kỳ, gồm bột ngọt giảm 6,7%; phân hỗn hợp NPK giảm 6,3%; tivi giảm 5,1% và khí hóa lỏng LPG giảm 4,9%.
Đà tăng của sản xuất công nghiệp được ghi nhận tại 33 địa phương trong 10 tháng năm 2026. Một số địa phương có IIP tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện tăng cao. Trong đó, Hà Tĩnh là địa phương có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao nhất cả nước, với mức tăng 42,1% so với cùng kỳ năm trước.
Xếp phía sau lần lượt là Ninh Bình với mức tăng 25,7%; Thái Nguyên tăng 23%; Nghệ An tăng 21,2%; Bắc Ninh tăng 20,4%; Quảng Ninh tăng 19,7%; Phú Thọ tăng 18,9%; Hưng Yên tăng 15,6%; Quảng Trị và Hải Phòng lần lượt tăng 15,5% và 15%.
Ở chiều ngược lại, Sơn La là địa phương duy nhất ghi nhận IIP giảm trong 10 tháng, với mức giảm 5%. Ngoài ra, còn một số địa phương có chỉ số tăng thấp gồm Lạng Sơn tăng 4,9%; Lai Châu tăng 6,2%; Khánh Hòa tăng 7,1%; Lào Cai tăng 7,8%; Tuyên Quang và Gia Lai cùng tăng 8,3%; Hà Nội tăng 9%. Trong khi đó, Đà Nẵng và Điện Biên dù có mức tăng trên 10% nhưng so với các tỉnh thành khác thì vẫn được xếp vào nhóm tăng thấp.
