Đối với thép nhập khẩu, chế độ quản lý chất lượng được xác định theo mức độ rủi ro của từng nhóm sản phẩm tại danh mục do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Đối với sản phẩm thép sản xuất và lưu thông, thông tin nhận diện lô sản phẩm thép được xác định trên cơ sở nhãn hàng hóa, hồ sơ sản xuất...
Dự thảo quy định rõ các biện pháp quản lý đặc thù đối với thép; tăng cường quản lý theo mức độ rủi ro, hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc và chia sẻ dữ liệu… Ảnh: Duy Linh.
Ngày 29/10, Bộ Tư pháp công bố hồ sơ thẩm định dự thảo Nghị
định quy định về quản lý chất lượng thép. Hồ sơ dự thảo do Bộ Khoa học và Công
nghệ chủ trì soạn thảo.
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG PHÂN TÁN, THIẾU LIÊN THÔNG TRONG QUẢN LÝ
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, ngành thép là ngành công nghiệp
nền tảng, cung cấp vật liệu đầu vào quan trọng cho xây dựng, cơ khí chế tạo,
công nghiệp hỗ trợ, giao thông, năng lượng và quốc phòng, an ninh. Sự phát triển
ổn định của ngành thép có ý nghĩa quyết định đối với năng lực tự chủ của nền
kinh tế, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch sang mô hình
tăng trưởng xanh, phát thải thấp.
Năm 2025, sản lượng thép thô đạt 24,7 triệu tấn (tăng 12% so
với năm 2024, là mức cao nhất trong 5 năm gần đây); tổng tiêu thụ đạt 24,1 triệu
tấn (tăng 12,9%). Năng lực luyện kim trong nước đã hình thành các tổ hợp luyện
kim quy mô lớn khép kín từ thượng nguồn đến hạ nguồn.
Về xuất nhập khẩu ghi nhận năm 2023, Việt Nam
nhập khẩu khoảng 13,33 triệu tấn và xuất khẩu khoảng 11,125 triệu tấn thép
thành phẩm các loại. Giai đoạn 2024 - 2025, lượng thép nhập khẩu tiếp tục gia
tăng (trong đó nhập khẩu từ khu vực Đông Á chiếm tỷ trọng lớn).
Quy mô xuất nhập khẩu lớn đòi hỏi công tác quản lý chất lượng
phải chuyển đổi mạnh mẽ sang quản lý theo rủi ro, vừa kiểm soát chặt chẽ an
toàn chất lượng, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Dự thảo cũng đặt ra quy định xác minh chất lượng thép tại nguồn nhằm phục vụ hậu kiểm. Ảnh: Duy Linh.
Báo cáo cũng chỉ ra hiện có hơn 300 tiêu chuẩn quốc gia liên
quan đến mặt hàng thép. Thực tiễn phát sinh vướng mắc trong đối chiếu mã HS,
mác thép, tiêu chuẩn áp dụng và mục đích sử dụng, nhất là đối với sản phẩm có
tên gọi tương tự nhưng khác thành phần hóa học, tính chất cơ lý hoặc công dụng.
Do đó, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định việc ban hành Nghị
định là cần thiết để khắc phục sự phân tán, thiếu liên thông trong quản lý. Đồng
thời, quy định rõ các biện pháp quản lý đặc thù đối với thép; tăng cường quản
lý theo mức độ rủi ro, hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc và chia sẻ dữ liệu…
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO MỨC ĐỘ RỦI RO CỦA TỪNG NHÓM SẢN PHẨM
Dự thảo Nghị định gồm 6 chương, 27 điều, quy định các biện
pháp quản lý đặc thù đối với sản phẩm thép trong sản xuất và lưu thông, thép nhập
khẩu.
Đối với sản phẩm thép sản xuất và lưu thông, thông tin nhận
diện lô sản phẩm thép được xác định trên cơ sở nhãn hàng hóa, hồ sơ sản xuất,
chứng từ giao nhận, chứng chỉ chất lượng của nhà sản xuất hoặc tài liệu khác
theo quy định áp dụng đối với sản phẩm.
Thông tin nhận diện bao gồm: tên, dạng sản phẩm và mác thép;
tiêu chuẩn công bố áp dụng; quy chuẩn kỹ thuật khi sản phẩm thuộc phạm vi điều
chỉnh; mã mẻ luyện, mã lô hoặc thông tin nhận diện tương đương theo quy tắc xác
định lô của tiêu chuẩn áp dụng; kích thước, quy cách, khối lượng hoặc số lượng…
Thông tin này được thể hiện trên sản phẩm, bó, cuộn, bao
gói, nhãn treo, thẻ hàng, tài liệu kèm theo hoặc vật mang dữ liệu phù hợp với đặc
tính sản phẩm và pháp luật về nhãn hàng hóa.
Đáng chú ý, dự thảo quy định về 'hộ chiếu số của sản phẩm
thép'. Việc áp dụng hộ chiếu số đối với sản phẩm thép thực hiện theo pháp luật
về chất lượng sản phẩm, hàng hóa và lộ trình do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Lộ trình áp dụng phải xác định nhóm sản phẩm, thời điểm bắt buộc, yêu cầu dữ liệu,
điều kiện kỹ thuật và thời gian chuẩn bị phù hợp trên cơ sở đánh giá tác động,
khả năng đáp ứng của doanh nghiệp. Trước thời điểm áp dụng bắt buộc, tổ chức,
cá nhân được tự nguyện sử dụng hộ chiếu số.
Ngoài thông tin tối thiểu theo quy định chung, dữ liệu
chuyên ngành được tích hợp hoặc liên kết với hộ chiếu số theo yêu cầu áp dụng đối
với từng nhóm sản phẩm.
Đặc biệt, đối với thép nhập khẩu, chế độ quản lý chất lượng được xác định
theo mức độ rủi ro của từng nhóm sản phẩm tại danh mục do cơ quan có thẩm quyền
ban hành.
XÁC MINH CHẤT LƯỢNG THÉP TẠI NGUỒN ĐỂ PHỤC VỤ HẬU KIỂM
Dự thảo cũng đặt ra quy định xác minh chất lượng thép tại
nguồn nhằm phục vụ hậu kiểm. Theo dự thảo, cơ quan có thẩm quyền quyết định việc
xác minh tại nguồn đối với cơ sở có sản phẩm thép thuộc nhóm rủi ro trung bình
hoặc cao đã được đưa ra lưu thông tại Việt Nam khi có ít nhất một trong các căn
cứ.
Đó là có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về sự không phù
hợp có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng đối với an toàn, công trình, thiết bị,
tài sản, môi trường hoặc người sử dụng; có bằng chứng đáng tin cậy về giả mạo,
sửa chữa hoặc sử dụng sai phạm vi chứng chỉ, kết quả thử nghiệm, chứng nhận hoặc
dữ liệu chất lượng…
Góp ý dự thảo, Bộ Xây dựng đề nghị rà soát về mục tiêu, tiêu
chí lựa chọn, phương pháp kiểm tra, thẩm quyền, chi phí và tính khả thi của hoạt
động kiểm tra tại nguồn, nhất là trường hợp kiểm tra tại cơ sở sản xuất ở nước ngoài…
Trường hợp cơ sở sản xuất ở nước ngoài từ chối phối hợp kiểm tra tại nguồn mà
không có lý do chính đáng, đề nghị nghiên cứu cơ chế chuyển lô hàng sang chế độ
kiểm tra chặt tại cửa khẩu hoặc áp dụng biện pháp quản lý rủi ro tương ứng,
thay vì tạo thủ tục không thể thực hiện.
Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết tiếp thu ý kiến trên về xác
định tiêu chí rủi ro, tỷ lệ lô, nhân sự, chi phí, xung đột lợi ích, chia sẻ kết
quả và xem xét khắc phục. Theo cơ quan soạn thảo, không đặt ngưỡng điểm cứng
chưa được kiểm nghiệm; không tự động chuyển toàn bộ lô sang kiểm tra chặt vì cơ
sở không hợp tác…
Dự thảo xác định Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý chất lượng thép trong phạm vi Nghị định; phân định trách nhiệm của các bộ, địa phương và chủ thể trong chuỗi cung ứng.