Điều kiện nhận trợ cấp thất nghiệp từ năm 2026

Trong bối cảnh hiện nay, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là công cụ tài chính hỗ trợ người lao động khi mất việc, mà còn góp phần giúp họ sớm quay trở lại thị trường lao động.
Chính vì thế, chính sách bảo hiểm thất nghiệp ngày càng được thiết kế tạo thuận lợi cho người tham gia, trong đó có điều kiện hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp.
Thông tin tới người lao động về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp từ năm 2026, bà Trần Thị Thu Hà, Phó Trưởng phòng Chế độ bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội Hà Nội, cho biết theo Luật Việc làm năm 2025, để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật, mà không thuộc một trong các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động, hoặc người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Riêng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp phải từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.
Theo Nghị định số 374/2025/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gồm 3 thành phần cơ bản.
Thứ nhất, là đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp (theo mẫu). Đây là văn bản thể hiện nguyện vọng của người lao động về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, là giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.
Các giấy tờ này có thể là hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng; quyết định thôi việc, quyết định sa thải, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; hoặc văn bản xác nhận của người sử dụng lao động, trong đó thể hiện rõ thông tin người lao động, loại hợp đồng đã ký, lý do và thời điểm chấm dứt hợp đồng.
Đối với trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng, giấy tờ xác nhận chấm dứt hợp đồng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng lao động đã ký.
Trường hợp đặc biệt, khi đơn vị sử dụng lao động không còn người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền, người lao động có thể đề nghị Sở Nội vụ thực hiện xác nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động theo trình tự, thủ tục được quy định cụ thể tại Nghị định.
Thành phần thứ ba của hồ sơ là sổ bảo hiểm xã hội. Cơ quan Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm xác nhận thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn theo quy định, làm căn cứ để giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp.
Về phương thức nộp hồ sơ, người lao động trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc, nếu chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp, nộp một bộ hồ sơ trực tiếp tại tổ chức dịch vụ việc làm công nơi người lao động có nhu cầu nhận trợ cấp thất nghiệp, hoặc nộp qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Trường hợp người lao động gặp khó khăn do ốm đau, thai sản, tai nạn, thiên tai, dịch bệnh hoặc sự kiện bất khả kháng khác, hồ sơ có thể được nộp thông qua người được ủy quyền hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính theo quy định.
Theo chuyên gia, nếu người lao động chưa nhận trợ cấp thất nghiệp, họ cũng có thể bảo lưu trong 5 trường hợp.
Trường hợp 1: Người lao động có tổng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ trên 36 tháng đến đủ 144 tháng, đã hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng vẫn còn thời gian đóng chưa được giải quyết hưởng trợ cấp.
Trường hợp 2: Người lao động bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, toàn bộ thời gian đã đóng nhưng chưa hưởng sẽ được bảo lưu toàn bộ cho lần hưởng tiếp theo.
Trường hợp 3: Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thuộc các trường hợp theo quy định.
Trường hợp 4: Người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp sau 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng, mà không có thông báo cho cơ quan Bảo hiểm xã hội.
Trường hợp 5: Người lao động được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng sau khi đã chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.
-Phúc Minh
]]>